Min menu

Pages

TRUYỆN MỚI

Anh trai bố tôi mất liên lạc suốt 20 năm, đến ngày về lại bị cả họ quay lưng, chú hai khóa cửa, cô út còn thả con chó giữ nhà ra dọa đuổi. Chỉ riêng ông bà tôi ngồi chờ bên mâm cơm đã nguội lạnh. Nhưng khi người đàn ông ấy gọi đúng biệt danh thời nhỏ của bố, ông nội lập tức đập vỡ chén trà rồi yêu cầu tất cả tắt điện…TRUYỆN NGẮN

 #Truyệnngắn #Hưcấu #Sángtác Nội dung truyện ngắn trên chỉ mang tính giải trí, hư cấu.

CHƯƠNG 1 BIỆT DANH KHÔNG AI ĐƯỢC NHẮC LẠI

“Còi Nhỏ.”

Hai tiếng ấy vừa rơi xuống giữa sân, ông nội tôi lập tức giơ tay hất mạnh chén trà xuống nền gạch.

Choang!

Mảnh sứ trắng vỡ tung dưới chân bàn. Nước trà nóng loang qua những đường rêu mảnh trên sân cũ, chảy đến tận mép đôi giày bám đầy bụi đường của người đàn ông vừa xuất hiện ngoài cổng.

Ông nội đứng bật dậy, sắc mặt chuyển từ tái nhợt sang đỏ bừng. Những ngón tay già nua run lên, chỉ thẳng vào chúng tôi.

“Tắt điện!”

Không ai kịp hiểu ông muốn gì.

Chú hai đang giữ then cửa sắt khựng lại. Cô út đứng sau gốc hồng, một tay nắm sợi xích của con chó giữ nhà, cũng sững người. Mẹ tôi vừa bưng bát canh cá từ bếp ra, suýt đánh rơi cả mâm.

Bố tôi là người bàng hoàng nhất.

Ông đứng sát bậc thềm, đôi mắt mở lớn, nhìn người đàn ông ngoài cổng như nhìn thấy một phần quá khứ lẽ ra đã bị chôn kín từ lâu.

“Bố…” tôi nghe bố khàn giọng. “Bố vừa nói gì?”



Ông nội không trả lời.

Ông lao tới cửa chính, giật công tắc.

Ánh đèn vàng trong sân phụt tắt.

Cùng lúc đó, ông quát:

“Tắt hết! Trong nhà, ngoài bếp, cả phòng trên tầng! Không được để một ngọn đèn nào sáng!”

Bà nội hoảng hốt vịn mép bàn.

“Ông làm sao thế? Trời tối thế này, tắt điện làm gì?”

“Bà im đi!”

“Đại Sơn vừa về, ông còn muốn làm gì nữa?”

Người đàn ông ngoài cổng khẽ ngẩng đầu.

Ông khoảng ngoài năm mươi, vóc người gầy nhưng vai rộng. Chiếc áo khoác dài màu xám đã bạc ở khuỷu tay. Một chiếc vali vải cũ đặt bên chân. Gương mặt ông sạm nắng, khóe mắt sâu, tóc điểm bạc.

Đó là bác cả của tôi, Trần Đại Sơn.

Ít nhất cả gia đình đều nói như vậy.

Hai mươi năm trước, bác rời quê trong một đêm mưa. Từ đó bặt vô âm tín.

Không thư từ.

Không điện thoại.

Không ai biết bác sống hay đã mất.

Ông bà nội từng tìm khắp những nơi bác có thể đến. Có người bảo bác sang phía nam làm thuê. Có người nói bác theo bạn buôn hàng qua biên giới. Cũng có người đồn bác gây chuyện rồi trốn đi.

Những năm đầu, bà nội cứ đến mùa đông là trải lại chăn trong căn phòng cũ của bác.

Bà nói:

“Đại Sơn sợ lạnh. Nó về đột ngột còn có chỗ ngủ.”

Mười năm trôi qua, chú hai đề nghị dọn căn phòng ấy thành kho.

Bà không chịu.

Mười lăm năm trôi qua, cô út nói đừng chờ nữa.

Bà vẫn không nghe.

Đến năm thứ hai mươi, chính ông nội là người bảo mọi người:

“Cứ coi như nó không còn.”

Vậy mà chiều nay, khi người đàn ông ấy đứng trước cổng, bà nội chỉ nhìn một cái đã bật khóc.

Bà chạy ra, nhưng chú hai khóa cửa.

“Không được mở!”

“Tránh ra!” bà nội đập tay vào cánh cổng sắt. “Đó là anh con!”

Chú hai nghiến răng:

“Anh gì mà hai mươi năm không một lời? Lúc nhà khó khăn, ai ở lại chăm bố mẹ? Lúc bố bệnh, ai chạy tiền thuốc? Giờ đất đai có giá rồi mới quay về sao?”

Bác cả đứng ngoài, không tranh cãi.

Ông chỉ nhìn qua song sắt về phía mâm cơm giữa sân.

Mẹ tôi đã nấu từ buổi trưa.

Một con cá hấp gừng.

Thịt kho hoa hồi.

Đậu phụ sốt.

Rau cải xào tỏi.

Canh củ sen hầm sườn.

Cả món bánh bột ngô mà bà nội nói bác thích nhất.

Mâm cơm nguội dần từ lúc mặt trời chưa lặn. Bà nội không cho ai động đũa, cứ ngồi nhìn cổng.

Bố tôi cũng không ăn.

Từ sáng ông đã thay áo mới, rồi lại cởi ra, mặc chiếc áo khoác cũ.

Ông nói:

“Nếu anh cả về thật, anh ấy sẽ nhận ra chiếc áo này.”

Nhưng đến lúc bác xuất hiện, người khóa cửa không chỉ có chú hai.

Cô út còn dắt con chó giữ nhà ra.

Con chó lớn màu vàng xám vừa thấy người lạ đã sủa dữ dội, kéo căng sợi xích.

Cô út hét qua cổng:

“Đi đi! Nhà này không có người tên Trần Đại Sơn!”

Bà nội tức đến run người.

“Con điên rồi sao? Nó là anh con!”

Cô út đáp:

“Nếu là anh con, sao ông ấy không về khi mẹ mổ mắt? Không về khi bố nằm viện? Không về khi chị dâu cả mất?”

Bác cả nghe đến đó, ánh mắt chợt thay đổi.

“Mai Phương… mất rồi sao?”

Cô út cười lạnh.

“Ông còn biết hỏi?”

“Cô ấy mất khi nào?”

“Bảy năm trước.”

Bác cả siết tay lên quai vali.

“Vì bệnh gì?”

“Ông không xứng được biết.”

Bố tôi bước tới.

“Út, đừng nói nữa.”

Cô quay phắt lại.

“Anh ba còn bênh ông ta?”

Bố tôi đứng giữa sân, hai bàn tay buông thõng.

Nhà chúng tôi có bốn anh em.

Bác cả Trần Đại Sơn.

Chú hai Trần Đại Hải.

Bố tôi Trần Đại Hà.

Cô út Trần Tuyết Mai.

Người ngoài thường bảo ông nội đặt tên các con theo núi, biển, sông và tuyết, mong chúng rộng lòng, bền chí.

Nhưng trong căn nhà này, bốn anh em chưa từng thật sự đứng cùng một phía.

Chú hai ghét bác cả vì cho rằng bác bỏ nhà đi, đẩy toàn bộ trách nhiệm lên vai mình.

Cô út ghét bác vì chị dâu cả đã phải một mình nuôi con, sau đó mất trong cô độc.

Chỉ có bố tôi luôn tránh nhắc chuyện cũ.

Mỗi lần ai đó mắng bác, ông đều im lặng.

Hôm nay cũng vậy.

Cho đến khi bác cả nhìn thẳng vào bố và gọi:

“Còi Nhỏ.”

Bố tôi giật bắn người.

Đó là biệt danh thời nhỏ của ông.

Nhưng điều kỳ lạ là trong nhà không ai gọi bố như vậy.

Không phải vì ông bé hay gầy.

Mà vì cái tên ấy chỉ xuất hiện trong một mùa hè rất xa, trước khi cô út ra đời.

Tôi từng nghe bà nội lỡ miệng nhắc một lần. Bà vừa nói “Còi Nhỏ” thì ông nội lập tức đập bàn, cấm bà nhắc lại.

Từ đó, biệt danh ấy giống như một chiếc khóa treo trên cánh cửa mà chẳng ai được phép mở.

Bác cả vừa gọi đúng hai tiếng ấy, ông nội liền đập chén, bắt tắt điện.

Sân nhà chìm vào bóng tối.

Chỉ còn ánh sáng xanh nhạt từ bầu trời cuối ngày và vài vệt sáng hắt qua cửa sổ hàng xóm.

Con chó ngừng sủa.

Nó rên ư ử, lùi về phía cô út, như thể cũng cảm nhận được nỗi bất an đang lan ra.

Tôi nghe tiếng ông nội thở gấp.

Ông bước đến gần cổng, nhưng không mở.

“Anh là ai?”

Bác cả đứng yên.

“Bố không nhận ra con sao?”

“Đừng gọi tôi là bố.”

Bà nội hét lên:

“Ông nói gì vậy?”

Ông nội không nhìn bà.

“Trần Đại Sơn thuận tay trái.”

Ánh mắt mọi người lập tức dồn vào người đàn ông ngoài cổng.

Từ lúc xuất hiện, ông luôn kéo vali bằng tay phải.

Bác cả chậm rãi nâng bàn tay trái lên.

Ngón út của ông bị cụt một đốt.

Bà nội che miệng.

Vết thương ấy bác có từ năm mười hai tuổi, khi chẻ củi giúp nhà.

Ông nội không hề dịu lại.

“Đại Sơn có một vết bớt sau vai trái.”

Người đàn ông cởi nút cổ áo, kéo áo xuống khỏi vai.

Dưới ánh sáng mờ, một vết bớt màu nâu sẫm hiện ra gần xương bả vai.

Cô út nới lỏng sợi xích.

Chú hai vẫn chắn cổng.

Ông nội nói tiếp:

“Năm mười sáu tuổi, Đại Sơn từng rơi xuống giếng cạn. Ai kéo nó lên?”

Bác cả đáp ngay:

“Còi Nhỏ.”

Bố tôi lùi lại một bước.

Bác nói tiếp:

“Hôm đó thằng bé mới mười một tuổi, không đủ sức kéo. Nó buộc dây vào cây hòe, rồi chạy đi gọi chú Lương hàng xóm. Nhưng trước khi chạy, nó cứ vừa khóc vừa thổi cái còi đồng trên cổ. Vì vậy con gọi nó là Còi Nhỏ.”

Bố tôi đưa tay lên cổ theo bản năng.

Hai mươi năm qua ông vẫn giữ một chiếc còi đồng nhỏ trong ngăn tủ.

Tôi từng thấy nó, nhưng không biết nguồn gốc.

Ông nội hỏi:

“Cái còi đâu?”

Bác cả nhìn bố tôi.

“Còi Nhỏ, em còn giữ không?”

Bố tôi không đáp.

Ông quay vào nhà, đi qua bóng tối. Một lát sau, ông trở ra với chiếc còi đồng nằm trong lòng bàn tay.

Bác cả nhìn nó, đôi mắt đỏ lên.

“Anh đã mua cho em ở hội chợ huyện.”

Bố tôi hỏi:

“Tại sao anh gọi em là Còi Nhỏ ngay lúc vừa về?”

Câu hỏi khiến không khí lại căng lên.

Bác cả nhìn ông nội.

“Vì có người đang đứng ở phía bên kia bức tường.”

Tôi lạnh sống lưng.

Chú hai lập tức quay đầu nhìn về phía tường phía đông. Bên kia là con ngõ hẹp dẫn ra nhà kho cũ.

Không ai thấy gì.

Bác cả hạ giọng:

“Người đó nghe được biệt danh sẽ biết tôi đã gặp đúng người.”

Ông nội lao đến, mở then cổng nhưng không cho bác vào. Ông chỉ ghé sát song sắt.

“Ai đang theo anh?”

“Người của ông Phùng.”

Một tiếng thở bật ra từ cổ họng ông nội.

Bà nội ngơ ngác:

“Phùng nào?”

Ông nội quát:

“Bà vào nhà!”

“Không! Đại Sơn đã về, tôi không đi đâu cả.”

Chú hai nhíu mày.

“Bố biết người theo dõi anh ấy?”

Ông nội quay lại:

“Tất cả vào nhà. Đại Hải, đóng cổng. Tuyết Mai, đưa con chó ra sau.”

“Còn ông ta?” chú hai hỏi.

Ông nội nhìn bác cả thật lâu.

“Cho nó vào.”

Chú hai không nhúc nhích.

“Con không đồng ý.”

“Đây là nhà tôi.”

“Con cũng có phần trong nhà này.”

“Đại Hải!”

“Bố gọi anh ấy về để chia đất sao?”

Bác cả cười khẽ.

Nụ cười ấy không có chút vui vẻ.

“Em vẫn nghĩ anh quay lại vì căn nhà?”

“Không thì vì gì?”

“Vì một người sắp chết.”

Bà nội run giọng:

“Ai sắp chết?”

Bác cả nhìn bố tôi.

“Còi Nhỏ.”

Mẹ tôi đặt mâm xuống bàn.

“Anh đang nói gì vậy?”

Bố tôi cau mày.

“Tôi vẫn khỏe.”

Bác cả lấy từ túi áo ra một phong bì dày.

“Anh biết.”

“Vậy tại sao nói tôi sắp chết?”

“Vì nếu những thứ trong này rơi vào tay người khác, em sẽ không sống yên được quá ba ngày.”

Chú hai bật cười khinh miệt.

“Hai mươi năm mất tích, vừa về đã dọa cả nhà?”

Bác cả không để ý.

Ông đưa phong bì qua cổng.

Ông nội giật lấy, mở ra.

Bên trong là vài tấm ảnh.

Ánh sáng quá tối nên tôi không nhìn rõ.

Nhưng chỉ sau vài giây, tay ông nội bắt đầu run dữ dội.

Ông bật đèn pin điện thoại, soi một tấm.

Tôi đứng gần nhất, nhìn thấy trong ảnh là bố tôi đang bước ra khỏi một bệnh viện ở thành phố. Phía sau bố có một người đàn ông đội mũ lưỡi trai.

Tấm khác chụp mẹ tôi đi chợ.

Tấm nữa chụp tôi trước cổng trường.

Đặc biệt nhất là tấm cuối.

Một người lạ đang đứng trước mộ chị dâu cả.

Ông ta đặt bó hoa trắng xuống, rồi dùng ngón tay viết gì đó trên bia mộ.

Ông nội quay sang bác cả.

“Ảnh chụp khi nào?”

“Trong ba tháng qua.”

“Ai chụp?”

“Tôi.”

“Ông Phùng biết anh về?”

“Ông ta biết từ trước khi tôi lên tàu.”

“Vậy anh còn dám đến đây?”

“Con đã trốn hai mươi năm rồi.”

Giọng bác cả khàn đặc.

“Con không muốn trốn thêm.”

Bà nội bấu tay vào cánh cổng.

“Đại Sơn, hai mươi năm qua con ở đâu?”

Bác nhìn bà, môi run lên.

“Con xin lỗi, mẹ.”

“Con có biết mẹ chờ con thế nào không?”

“Con biết.”

“Biết mà không gửi một lá thư?”

“Con không thể.”

“Tại sao?”

Bác cả nhìn ông nội.

Ông nội lập tức cắt ngang:

“Vào nhà rồi nói.”

Chú hai vẫn không chịu mở khóa.

“Không. Con muốn nghe ngay ở đây.”

Ông nội giơ tay định tát, nhưng dừng giữa chừng.

Chú hai nhìn thẳng vào bố.

“Hai mươi năm trước, anh ấy đi, bố nói anh ấy lấy trộm tiền xưởng rồi bỏ trốn.”

Bà nội sững người.

“Ông từng nói Đại Sơn chỉ đi làm ăn xa.”

Chú hai cười đắng.

“Mẹ không biết sao? Năm đó xưởng mất hai trăm nghìn nhân dân tệ. Bố nói anh cả mang tiền đi.”

Mẹ tôi và cô út cùng quay sang ông nội.

Ông không phủ nhận.

Bác cả đứng ngoài cổng, ánh mắt bình tĩnh đến lạnh lẽo.

“Bố vẫn nói như vậy sao?”

Ông nội nghiến răng.

“Anh đã hứa không nhắc.”

“Con hứa không nhắc khi người nhà còn an toàn.”

“Bây giờ ai không an toàn?”

“Còi Nhỏ.”

Bố tôi bước đến sát cổng.

“Chuyện này liên quan gì đến tôi?”

Bác cả nhìn ông.

“Em có nhớ mùa hè năm em mười một tuổi, sau hôm kéo anh khỏi giếng, em đã nhìn thấy gì trong kho phía sau xưởng không?”

Bố tôi nheo mắt.

“Kho nào?”

“Kho số ba.”

“Tôi không nhớ.”

“Em nhớ.”

Bác cả gằn từng tiếng:

“Nhưng bố đã khiến em tin rằng đó chỉ là một cơn ác mộng.”

Mặt ông nội trắng bệch.

Bố tôi đứng chết lặng.

Tôi thấy bàn tay ông ôm đầu.

Những năm gần đây, bố thường mơ thấy một căn phòng tối. Ông kể trong mơ có tiếng còi, mùi dầu máy và một đôi giày dính bùn.

Mẹ luôn bảo ông làm việc quá sức.

Bác cả tiếp tục:

“Trong kho số ba, em đã nhìn thấy một người nằm bên cạnh chiếc máy cán vải.”

Bà nội kêu lên:

“Đủ rồi!”

Lần đầu tiên bà không bênh bác.

Bà lùi lại, vẻ hoảng loạn hiện rõ.

Tôi nhận ra không chỉ ông nội biết bí mật này.

Bà cũng biết.

Bố tôi nhìn mẹ mình.

“Mẹ, con đã nhìn thấy ai?”

Bà nội lắc đầu.

“Không có ai cả.”

“Mẹ đang nói dối.”

“Con còn nhỏ, con nhìn nhầm.”

“Người đó là ai?”

Ông nội quát:

“Đại Hải, mở cửa!”

Chú hai nhìn từng người, cuối cùng vẫn mở khóa.

Bác cả kéo vali vào.

Ngay khi cổng khép lại, một tiếng động nhỏ vang lên từ phía bức tường đông.

Bác cả lao tới.

Ông trèo lên bậc đá, nhìn qua khe tường.

Chỉ thấy một bóng người chạy vụt khỏi con ngõ.

“Có người nghe lén!” bác nói.

Chú hai mở cổng định đuổi theo.

Bác giữ lại.

“Đừng đi. Chúng đang chờ nhà mình tách ra.”

“Chúng là ai?”

“Người muốn lấy lại cuốn sổ.”

“Cuốn sổ nào?”

Bác cả nhìn chiếc vali.

“Thứ khiến tôi phải biến mất hai mươi năm.”

Mọi người vào phòng khách.

Ông nội ra lệnh kéo kín rèm.

Không bật đèn lớn.

Chỉ đặt một chiếc đèn sạc nhỏ ở giữa bàn.

Ánh sáng yếu làm khuôn mặt ai cũng trở nên méo mó.

Bác cả không động đến mâm cơm.

Bà nội gắp cho bác một miếng cá.

“Ăn đi con.”

Bác nhìn bát cơm, mắt đỏ.

“Con đã nghĩ đến bữa cơm này suốt hai mươi năm.”

“Vậy ăn đi.”

“Nhưng trước hết, con phải nói.”

Chú hai khoanh tay.

“Anh nói đi. Nói xem hai mươi năm qua anh sống thế nào, còn chị dâu nằm xuống mà không gặp được chồng.”

Bác cả nhắm mắt.

“Mai Phương chết vì bệnh gì?”

“Bệnh tim.”

“Cô ấy có để lại gì cho tôi không?”

“Không.”

Cô út cười lạnh.

“Chị ấy chờ anh mười ba năm. Đến lúc nằm viện vẫn giữ tấm ảnh cưới. Nhưng anh có xứng nhận lại thứ gì sao?”

Bác cả cúi đầu.

“Con trai tôi đâu?”

Căn phòng im lặng.

Tôi từng nghe bác có một con trai tên Trần Vũ, lớn hơn tôi vài tuổi. Nhưng từ nhỏ tôi chưa từng gặp.

Chú hai đáp:

“Nó đi rồi.”

“Đi đâu?”

“Không ai biết.”

“Bao lâu?”

“Ba năm.”

Bác cả siết chặt đôi đũa.

“Vì sao không ai báo cho tôi?”

Chú hai đập bàn.

“Báo bằng cách nào? Gửi thư xuống biển à?”

Bác cả không nói nữa.

Một lúc sau, ông mở vali.

Bên trong không có nhiều quần áo.

Chỉ có một hộp thiếc, một tập giấy bọc vải dầu và một cuốn sổ đen đã cháy xém ở góc.

Ông nội vừa thấy cuốn sổ đã đứng bật dậy.

“Anh vẫn giữ nó?”

“Phải.”

“Tại sao không đốt?”

“Vì nó là bằng chứng.”

“Bằng chứng sẽ hại chết cả nhà!”

“Không.”

Bác cả nhìn bố tôi.

“Thứ hại chết cả nhà là lời nói dối của bố.”

Bố tôi khàn giọng:

“Cuốn sổ ghi gì?”

Bác cả mở trang đầu.

Nét chữ dày đặc, có ngày tháng, số tiền và tên người.

“Xưởng dệt năm đó không chỉ sản xuất vải.”

Ông nội quát:

“Im ngay!”

Bác cả không dừng.

“Có người lợi dụng kho xưởng để cất hàng nhập lậu, giấy tờ giả và tiền mặt.”

Chú hai sửng sốt.

“Bố tham gia?”

Ông nội đập tay xuống bàn.

“Tôi chỉ cho thuê kho!”

“Bố biết họ làm gì,” bác cả nói. “Bố còn giúp họ sửa sổ sách.”

“Vì cả nhà!”

“Bố lúc nào cũng nói vì cả nhà.”

“Không có số tiền đó, các con lấy gì đi học?”

“Vậy người chết trong kho số ba thì sao?”

Bà nội bật khóc.

“Tôi xin con, Đại Sơn…”

Bố tôi cúi đầu ôm trán.

“Người chết là ai?”

Bác cả nhìn ông.

“Là Lưu Chính.”

“Lưu Chính nào?”

“Người phụ trách kho.”

Bố tôi thở dốc.

Tôi chưa từng nghe cái tên ấy.

Nhưng ông nội thì rõ ràng biết.

Bác cả nói:

“Ông ấy phát hiện ông Phùng dùng xưởng làm nơi cất hàng. Ông ấy muốn báo. Tối hôm đó, xảy ra giằng co. Ông ấy ngã vào máy.”

“Không ai cố ý!” ông nội hét.

“Nhưng bố giúp chuyển ông ấy khỏi hiện trường.”

“Ông ấy đã không còn dấu hiệu gì!”

“Bố còn lau dấu vết.”

“Đại Sơn!”

“Còi Nhỏ nhìn thấy.”

Bố tôi lắc đầu liên tục.

“Không… Tôi không nhớ.”

“Em thổi còi gọi người.”

Bác cả nói chậm.

“Anh chạy đến, thấy em đứng bên cửa kho. Em khóc, nói người kia không cử động.”

Một tiếng còi rất nhỏ vang lên trong phòng.

Không ai thổi.

Là chiếc còi đồng trong tay bố rơi xuống sàn.

Âm thanh ngắn ấy khiến ông co rúm lại.

Ký ức dường như bật tung.

“Đôi giày…” ông lẩm bẩm. “Đôi giày dính bùn.”

Bác cả gật đầu.

“Là giày của ông Phùng.”

Bố tôi nhìn ông nội.

“Bố đã làm gì con?”

Ông nội không trả lời.

Bà nội nói trong nước mắt:

“Bố con chỉ đưa con đến bác sĩ. Con sốt mấy ngày, cứ nhắc kho số ba. Bác sĩ bảo con bị kích động.”

Bố tôi nhìn mẹ.

“Rồi sao nữa?”

Bà im lặng.

Bác cả đáp thay:

“Bố nhờ người thôi miên trị liệu cho em.”

“Thôi miên?”

“Để khiến em tin mình nhìn nhầm.”

Bố tôi lùi ghế.

“Không thể nào.”

“Vì vậy em quên biệt danh Còi Nhỏ. Bố cấm mọi người nhắc, vì âm thanh của cái còi có thể khiến em nhớ lại.”

Tôi hiểu vì sao ông nội vừa nghe bác gọi “Còi Nhỏ” đã bắt tắt điện.

Hai mươi năm trước, kho số ba cũng mất điện khi sự việc xảy ra.

Bóng tối.

Tiếng còi.

Biệt danh.

Tất cả đều có thể kéo ký ức của bố trở về.

Chú hai nhìn ông nội với vẻ ghê sợ.

“Bố dùng bác sĩ xóa ký ức của em ba?”

“Không ai xóa được ký ức!” ông nội gầm lên. “Chỉ là giúp nó không bị ám ảnh!”

“Vậy tại sao anh cả phải biến mất?”

Bác cả đặt cuốn sổ lên bàn.

“Vì tôi đã sao chép sổ sách.”

Ông kể rằng sau sự việc, ông Phùng yêu cầu gia đình im lặng. Ông nội đồng ý đổi lấy một khoản tiền và lời hứa không ai bị liên lụy.

Nhưng bác cả không chấp nhận.

Bác lấy cuốn sổ ghi lại toàn bộ giao dịch.

Ông định giao cho người có trách nhiệm.

Trước ngày hẹn, con trai nhỏ của bác suýt bị bắt cóc trên đường về nhà.

Chị dâu cả nhận được một phong thư.

Trong đó chỉ có một câu:

“Nếu cuốn sổ xuất hiện, đứa trẻ sẽ biến mất.”

Bác cả quyết định rời đi.

“Tại sao anh không mang vợ con theo?” cô út hỏi.

“Vì họ theo dõi tôi.”

“Anh nghĩ anh đi thì chị dâu được an toàn?”

“Lúc đó tôi nghĩ vậy.”

“Anh sai rồi.”

“Tôi biết.”

Giọng bác cả vỡ ra.

“Tôi đã sai suốt hai mươi năm.”

Ông kể mình chuyển hết thành phố này đến thành phố khác, làm việc dưới tên khác. Mỗi lần định liên lạc, lại thấy có người tìm đến gần gia đình.

Ông gửi tiền qua một người bạn.

Chú hai cười lạnh:

“Tiền nào?”

Bác cả sững người.

“Mỗi năm tôi đều gửi.”

“Không một đồng nào đến.”

Bác quay sang ông nội.

Ông nội tránh mắt.

Bác hiểu ngay.

“Bố giữ lại?”

“Tiền không rõ nguồn, tôi không dám nhận.”

“Bố nói dối.”

“Đại Sơn…”

“Mai Phương có biết tôi gửi không?”

Không ai trả lời.

Bác cả ngồi bất động.

Hai bàn tay ông run lên, rồi nắm chặt lại.

“Vậy cô ấy đã nghĩ tôi bỏ rơi mẹ con cô ấy.”

Bà nội khóc nấc.

“Ta cũng không biết.”

Bác cả quay sang bố mình.

“Tại sao?”

Ông nội đáp rất nhỏ:

“Nếu Mai Phương biết anh còn sống, bà ấy sẽ tìm anh. Nếu bà ấy tìm, ông Phùng sẽ biết.”

“Bố dùng lý do bảo vệ để cắt đứt cả cuộc đời tôi.”

“Tôi không còn cách nào.”

“Bố luôn có cách.”

Bác cả đẩy cuốn sổ về phía ông.

“Chỉ là bố không dám trả giá.”

Đúng lúc ấy, điện thoại chú hai reo.

Số lạ.

Chú bắt máy, bật loa.

Một giọng đàn ông già vang lên:

“Trần Đại Sơn đã về rồi phải không?”

Không ai đáp.

Người kia cười.

“Hai mươi năm không gặp, vẫn thích kéo cả nhà vào rắc rối.”

Bác cả đứng lên.

“Phùng Khải.”

Ông nội run rẩy ngồi xuống.

Giọng người kia chậm rãi:

“Đưa cuốn sổ cho tôi trước nửa đêm. Nếu không, sáng mai cả thị trấn sẽ biết Trần Đại Sơn là kẻ lấy tiền xưởng bỏ trốn.”

Bác cả đáp:

“Ông đã nói điều đó hai mươi năm rồi.”

“Nhưng lần này tôi có thêm thứ mới.”

“Thứ gì?”

“Con trai anh.”

Bác cả tái mặt.

“Tôi không tin.”

“Trần Vũ đang ở với tôi.”

Một giọng trẻ bất ngờ vang lên trong điện thoại:

“Bố, đừng đưa sổ!”

Cuộc gọi bị ngắt.

Chiếc điện thoại trượt khỏi tay chú hai.

Bác cả lao ra cửa.

Bố tôi giữ ông lại.

“Anh đi đâu?”

“Cứu con tôi.”

“Anh biết họ ở đâu sao?”

“Kho cũ.”

Ông nội lập tức hét:

“Không được đến đó!”

Bác cả quay lại.

“Bố còn muốn tôi chạy trốn thêm hai mươi năm?”

“Đó là cái bẫy.”

“Con biết.”

“Vậy anh còn đi?”

“Vì lần này người bị kéo vào là con trai con.”

Bố tôi nhặt chiếc còi dưới sàn.

“Em đi cùng anh.”

Ông nội đứng chắn trước cửa.

“Không ai được đi!”

Bố nhìn ông.

“Bố đã giữ con trong bóng tối hai mươi năm. Tối nay, con phải tự nhìn lại nơi đó.”

Ngoài sân, gió nổi lên.

Con chó giữ nhà bỗng sủa về phía tường đông.

Rồi tất cả nghe thấy một tiếng “tách”.

Đèn điện trong cả khu nhà đồng loạt tắt.

Không phải do công tắc.

Lần này, có người đã cắt điện từ bên ngoài.

Trong bóng tối, một viên đá bay qua cửa sổ, đập xuống bàn.

Quấn quanh viên đá là một mảnh giấy.

Tôi bật đèn điện thoại.

Trên giấy có một dòng chữ nguệch ngoạc:

“Đưa Còi Nhỏ đến kho số ba.”

CHƯƠNG 2 KHO SỐ BA

Mẹ nắm chặt tay tôi khi bố và bác cả chuẩn bị rời nhà.

“Không được đi,” bà nói. “Gọi người đến giải quyết.”

Bác cả lắc đầu.

“Nếu gọi công khai lúc này, họ có thể chuyển Trần Vũ đi.”

“Nhưng anh không thể chỉ mang theo cuốn sổ rồi đến chỗ họ.”

“Tôi không mang bản gốc.”

Ông mở hộp thiếc trong vali.

Bên trong là một chiếc thẻ nhớ nhỏ.

“Tôi đã sao chụp toàn bộ.”

Chú hai nhìn anh.

“Anh định làm gì?”

“Gửi bản sao cho luật sư của tôi. Nếu đến sáng tôi không liên lạc, ông ấy sẽ công bố.”

“Anh có luật sư?”

“Tôi đã chuẩn bị suốt nhiều năm.”

Cô út cười cay đắng.

“Anh chuẩn bị đối đầu với người ngoài, nhưng không chuẩn bị cách giải thích với vợ con.”

Bác cả im lặng.

Câu nói ấy đau hơn bất kỳ lời mắng nào.

Bố tôi khoác áo.

Mẹ đứng chắn trước mặt.

“Anh thật sự đi?”

“Trần Vũ là cháu chúng ta.”

“Em biết.”

“Anh cũng phải biết sự thật.”

“Anh có thể chờ.”

“Anh đã chờ hai mươi năm rồi.”

Mẹ nhìn bố rất lâu.

Sau đó bà đưa cho ông chiếc đèn pin.

“Em không cản. Nhưng anh phải hứa sẽ không tự ý làm điều nguy hiểm.”

Bố gật đầu.

Tôi bước tới.

“Con đi cùng.”

Ba người lớn đồng loạt phản đối.

Tôi nói:

“Con đã nhìn thấy ảnh họ theo dõi con. Chuyện này không còn chỉ của người lớn.”

Bác cả nhìn tôi.

“Cháu tên gì?”

“Trần Ninh.”

Ông khẽ gật đầu.

“Cháu giống bố cháu hồi trẻ.”

“Vậy bác càng nên cho cháu đi.”

“Không.”

“Bác vừa về, bác không biết đường trong khu xưởng cũ đã thay đổi. Con từng làm bài khảo sát kiến trúc ở đó.”

Chú hai nhíu mày.

“Khu ấy bị bỏ hoang, con đến làm gì?”

“Trường con từng tổ chức nghiên cứu tái sử dụng nhà xưởng cũ.”

Tôi mở bản đồ trong điện thoại.

“Khu phía bắc đã bị phá một phần. Kho số ba nằm gần đường thoát nước cũ. Có một lối vào từ phía sau mà cổng chính không nhìn thấy.”

Bác cả nhìn bản đồ.

“Cháu chắc?”

“Chắc.”

Cuối cùng, bố đồng ý cho tôi đi với điều kiện luôn ở phía sau.

Chú hai cũng muốn theo.

Bác cả nói:

“Nhà cần có người ở lại bảo vệ ông bà.”

Chú hai đáp:

“Anh đừng nghĩ chỉ mình anh biết gánh trách nhiệm.”

Đó là lần đầu tiên giọng chú không còn đầy thù ghét.

Cuối cùng, bốn người lên chiếc xe tải nhỏ của chú hai.

Ông nội đứng giữa sân, không tiễn.

Khi xe nổ máy, ông gọi bố tôi.

“Đại Hà.”

Bố quay lại.

Ông nội lấy từ túi áo một chiếc chìa khóa sắt.

“Kho số ba có một cửa ngầm dưới sàn. Chìa khóa này mở được.”

Bác cả lạnh lùng hỏi:

“Bố còn giấu gì?”

Ông nội cúi đầu.

“Sau đêm đó, ông Phùng xây một hầm nhỏ dưới kho để cất giấy tờ.”

“Bố biết?”

“Biết.”

“Trong đó có gì?”

“Có thể có hồ sơ thật về cái chết của Lưu Chính.”

Bố tôi nhận chìa khóa.

“Vì sao giờ bố mới nói?”

Ông nội đáp:

“Vì tôi sợ các con đi rồi không trở về.”

Bác cả kéo cửa xe.

“Bố đã sợ hai mươi năm. Kết quả có ai thật sự trở về đâu?”

Chiếc xe rời làng.

Trên đường, bác cả kể thêm về ông Phùng Khải.

Ông ta từng là thương nhân có tiếng trong vùng. Những năm xưởng dệt khó khăn, Phùng Khải đưa tiền cho ông nội, đổi lại quyền sử dụng kho vào ban đêm.

Sau khi sự việc xảy ra, ông ta dùng tiền và mối quan hệ để che giấu.

Bác cả cho rằng Lưu Chính không chết ngay trong kho.

“Ý anh là sao?” bố hỏi.

“Anh nghe thấy ông ấy còn thở.”

“Vậy tại sao không đưa đi viện?”

“Ông Phùng nói nếu đưa đi, tất cả đều bị điều tra.”

Chú hai siết tay lái.

“Bố nghe theo?”

“Phải.”

“Lưu Chính chết vì không được cứu?”

“Anh không biết chắc.”

Không ai nói thêm.

Sự im lặng trong xe nặng như đá.

Khu xưởng cũ nằm ven thị trấn, phía sau một con kênh đã cạn.

Cổng chính rỉ sét. Tấm biển tên xưởng chỉ còn vài nét chữ mờ.

Chú hai dừng xe cách đó vài trăm mét.

Chúng tôi đi bộ qua lối sau.

Đêm không trăng.

Cỏ dại cao đến đầu gối.

Mùi đất ẩm và dầu máy cũ vẫn còn vương trong không khí.

Bố tôi đi càng gần càng thở gấp.

“Anh có nhớ không?” bác cả hỏi.

“Có vài hình ảnh.”

“Đừng ép mình.”

“Em cần nhớ.”

Khi chúng tôi đến gần kho số ba, một bóng đèn duy nhất bật sáng trên mái.

Cánh cửa thép khép hờ.

Bác cả ra hiệu dừng.

Bên trong vang lên giọng đàn ông:

“Đại Sơn, vào đi.”

Bác bước ra khỏi bóng tối.

“Tôi đến rồi.”

“Cuốn sổ đâu?”

“Cho tôi thấy con trai.”

Một người đàn ông trung niên bị đẩy ra gần cửa.

Anh khoảng ba mươi tuổi, tay bị trói phía trước, môi rách nhẹ. Gương mặt có nhiều nét giống bác cả.

“Trần Vũ!” bác gọi.

Người trẻ lắc đầu.

“Bố, đừng đưa!”

Một ông già ngồi trong kho.

Ông ta mặc áo len đen, tóc bạc nhưng dáng vẫn thẳng.

Phùng Khải.

Hai bên ông ta có ba người đàn ông.

“Gia đình đoàn tụ cảm động thật,” ông ta nói.

Bác cả bước vào.

Bố và chú hai định theo, nhưng bác ra hiệu ở lại.

Tôi cùng bố vòng về phía sau theo bản đồ.

Chúng tôi tìm thấy cửa phụ bị che bởi tấm tôn.

Bố mở khóa bằng chìa ông nội đưa.

Cánh cửa dẫn xuống một cầu thang hẹp.

Mùi ẩm mốc xộc lên.

Bố bật đèn pin.

Trên tường có vết bút chì cũ.

Một đường ngang đo chiều cao trẻ con.

Bên cạnh viết:

“Đại Hà, mười một tuổi.”

Bố chạm tay lên dòng chữ.

“Đây là em viết.”

Ký ức dần trở lại.

Ông kể hồi nhỏ thường theo anh cả đến xưởng. Hai người chơi trốn tìm trong kho. Còi đồng dùng để gọi nhau khi lạc.

Đêm xảy ra sự việc, bố nghe tiếng cãi nhau.

Ông trốn dưới cầu thang này.

Qua khe sàn, ông thấy Lưu Chính tranh luận với Phùng Khải và ông nội.

Lưu Chính giữ một tập giấy.

Ông nói sẽ tố giác việc vận chuyển hàng trái phép.

Phùng Khải giật tập giấy.

Trong lúc giằng co, Lưu Chính ngã xuống.

Nhưng sau đó…

Bố ôm đầu.

“Có người thứ tư.”

“Ai?” tôi hỏi.

“Anh không thấy mặt.”

“Có đặc điểm gì?”

“Người đó đeo một chiếc nhẫn lớn.”

Bố nhìn tay mình.

“Ông ta cúi xuống kiểm tra Lưu Chính. Sau đó nói: ‘Đừng đưa đi. Nếu ông ta tỉnh lại, tất cả sẽ xong.’”

“Không phải Phùng Khải?”

“Không. Giọng khác.”

Chúng tôi xuống hầm.

Dưới đó có những tủ sắt cũ.

Một chiếc vẫn khóa.

Bố dùng chìa mở.

Bên trong là tập hồ sơ bọc nilon, vài cuộn băng ghi âm và một chiếc áo khoác dính vệt nâu cũ.

Tôi lấy điện thoại chụp lại.

Trên tập hồ sơ có tên một người:

“Trịnh Văn Đông.”

Bố tái mặt.

“Tên này…”

“Bố biết?”

“Là bác sĩ từng điều trị cho bố.”

Người đã giúp ông quên ký ức lại có tên trong hồ sơ kho.

Phía trên vang lên tiếng quát.

“Cuốn sổ đâu?”

Bác cả đáp:

“Thả con tôi trước.”

Một tiếng va chạm.

Tôi và bố vội quay lên.

Qua khe cửa, tôi thấy bác cả bị giữ.

Trần Vũ vùng ra.

Phùng Khải cầm cuốn sổ đen.

Ông ta lật vài trang rồi ném xuống đất.

“Đồ giả.”

Bác cả nói:

“Bản thật ở nơi ông không tìm được.”

Phùng Khải cười.

“Anh nghĩ tôi cần cuốn sổ sao?”

Ông ta nhìn về phía cửa sau.

“Thứ tôi cần là Còi Nhỏ.”

Bố tôi bước ra.

“Tôi ở đây.”

Bác cả hét:

“Em ra làm gì?”

Phùng Khải nhìn bố, ánh mắt lạnh.

“Hai mươi năm rồi.”

Bố hỏi:

“Ông sợ tôi nhớ lại điều gì?”

“Anh chỉ là một đứa trẻ nhìn nhầm.”

“Người đeo nhẫn là ai?”

Nụ cười của Phùng Khải biến mất.

Bố tiếp tục:

“Người quyết định không đưa Lưu Chính đi viện là ai?”

Phùng Khải đứng lên.

“Anh nên hỏi bố mình.”

“Bố tôi không đeo nhẫn.”

Phùng Khải nhìn xuống tay phải.

Trên ngón cái của ông ta có vết hằn cũ, như từng đeo nhẫn trong thời gian dài.

Nhưng trong ký ức của bố, chiếc nhẫn nằm trên tay một người khác.

Phùng Khải nói:

“Có những ký ức nên để chết.”

Bố đáp:

“Không. Chúng chỉ ngủ.”

Từ phía sau, chú hai bất ngờ lao vào, đẩy một người đàn ông sang bên.

Bác cả kéo Trần Vũ về.

Tình hình hỗn loạn.

Không có ai dùng vũ khí nguy hiểm, nhưng bàn ghế bị xô đổ, tiếng quát vang lên.

Tôi chạy đến bảng điện cũ, bật toàn bộ đèn kho.

Ánh sáng trắng chói lòa phủ khắp nơi.

Phùng Khải che mắt.

Bố tôi đứng giữa kho, tiếng máy điện rung lên làm ký ức cuối cùng bật ra.

Ông nhìn thẳng Phùng Khải.

“Người đeo nhẫn là Trịnh Văn Đông.”

Phùng Khải không nói.

“Ông ta là anh rể của ông.”

Bố nhớ lại bác sĩ Trịnh đã có mặt đêm ấy.

Không phải với tư cách bác sĩ.

Ông ta cũng góp tiền vào đường dây làm ăn.

Lưu Chính vẫn còn sống sau cú ngã. Chính Trịnh Văn Đông là người cản việc đưa đi cấp cứu, rồi sau này làm báo cáo y tế sai lệch.

Ông ta còn trực tiếp điều trị cho bố, khiến lời khai của một đứa trẻ trở nên rời rạc.

Bác cả hỏi:

“Trịnh Văn Đông đâu?”

Phùng Khải cười nhạt.

“Chết mười năm rồi.”

“Vậy ông nghĩ không ai phải chịu trách nhiệm?”

“Anh muốn gì? Đào lại tất cả để cả nhà anh cũng bị kéo xuống?”

Bố nhìn ông ta.

“Người lớn chúng tôi chịu trách nhiệm phần của mình. Nhưng không ai còn quyền ép một đứa trẻ sống với ký ức giả.”

Trần Vũ tháo được dây trói.

Anh bước tới bác cả.

Hai cha con đứng cách nhau chưa đầy một mét.

Bác cả muốn ôm con nhưng không dám.

Trần Vũ hỏi:

“Bố biết con tìm bố bao lâu không?”

Bác run giọng:

“Bố xin lỗi.”

“Con không cần câu đó.”

“Bố biết.”

“Vì sao bố không về khi mẹ bệnh?”

“Bố không biết.”

“Vì ông nội giấu tiền bố gửi?”

“Phải.”

Trần Vũ nhìn bác, nước mắt tràn ra.

“Con từng nghĩ bố không cần mẹ con con.”

“Bố chưa từng…”

“Nhưng kết quả vẫn giống nhau.”

Bác cả cúi đầu.

“Bố không xin con tha thứ ngay.”

“Vậy bố xin gì?”

“Xin con cho bố cơ hội nói hết sự thật.”

Trần Vũ không trả lời.

Ở phía bên kia, chú hai đã gọi người đến hỗ trợ. Bác cả cũng kích hoạt việc gửi tài liệu.

Phùng Khải nhận ra mọi chuyện không thể tiếp tục che giấu.

Ông ta ngồi xuống ghế.

“Tất cả các người sẽ hối hận.”

Bố đáp:

“Có thể. Nhưng hối hận vì nói thật còn tốt hơn sống cả đời trong lời nói dối.”

Chúng tôi rời kho lúc gần sáng.

Trước khi đi, bố quay lại hầm.

Ông lấy chiếc áo khoác cũ và cuộn băng ghi âm.

Ở đáy tủ có một phong thư mang tên ông nội.

Bố không mở.

Ông nói sẽ để ông tự đọc trước mặt cả nhà.

Khi về đến nhà, trời đã hửng.

Mâm cơm vẫn còn nguyên.

Bà nội ngồi ngủ gục bên bàn.

Mẹ và cô út thức trắng.

Ông nội đứng dưới mái hiên.

Thấy mọi người trở về, ông thở phào.

Nhưng khi nhìn tập hồ sơ trong tay bố, vẻ nhẹ nhõm biến mất.

Bố đặt phong thư lên bàn.

“Của bố.”

Ông nội nhìn nét chữ ngoài bìa, cả người cứng lại.

“Ai viết?”

“Lưu Chính.”

Bà nội bật khóc.

Ông nội chậm rãi mở thư.

Bên trong chỉ có một trang giấy.

Ông đọc thầm.

Sau đó ngồi xuống.

“Ông ấy viết gì?” chú hai hỏi.

Ông nội đưa thư cho bố.

Lưu Chính viết thư trước đêm xảy ra sự việc. Ông đã phát hiện hoạt động sai trái trong xưởng, nhưng điều khiến ông lo nhất không phải tiền bạc.

Ông biết một số loại hóa chất nhuộm không đạt chuẩn được chôn gần nguồn nước.

Nếu không xử lý, nhiều năm sau đất và nước quanh làng có thể bị ảnh hưởng.

Ông dự định ngăn lại.

Bác cả đọc xong, nhìn ông nội.

“Bố biết chuyện hóa chất?”

Ông nội gật đầu.

“Biết.”

“Bố vẫn im lặng?”

“Ông Phùng hứa sẽ di chuyển.”

“Ông ta có làm không?”

“Không biết.”

Chú hai đập tay xuống bàn.

“Con cái trong làng uống nước đó suốt bao năm!”

Ông nội nhắm mắt.

“Tôi sai.”

Cô út cười trong nước mắt.

“Bố chỉ nói hai chữ đó là xong sao?”

“Không.”

Ông tháo chiếc chìa khóa nhà chính đặt lên bàn.

“Từ hôm nay, mọi tài sản tôi giao lại cho các con xử lý. Tôi sẽ đi khai báo những gì mình biết.”

Bà nội giữ tay chồng.

“Ông đi rồi tôi làm sao?”

Ông nhìn bà.

“Bà không cần đi cùng.”

“Nhưng tôi cũng biết chuyện.”

“Bà chỉ biết một phần.”

Bà nội lắc đầu.

“Không.”

Cả nhà quay sang.

Bà lấy từ túi áo một tấm vải nhỏ.

Bên trong là chiếc nhẫn lớn.

“Chiếc nhẫn của Trịnh Văn Đông.”

Bố tôi đứng bật dậy.

“Mẹ giữ nó?”

“Sau đêm đó, nó rơi trong sân sau. Tôi nhặt được.”

“Tại sao mẹ không giao?”

“Ông ta đến gặp tôi.”

Bà kể Trịnh Văn Đông dọa rằng nếu bằng chứng xuất hiện, ông nội sẽ bị đưa đi, các con không ai chăm sóc.

Bà sợ.

Bà giấu chiếc nhẫn suốt hơn ba mươi năm.

Bác cả nhìn cha mẹ.

“Cả hai người đều nói vì con.”

Bà nội khóc.

“Mẹ thật sự muốn bảo vệ các con.”

“Nhưng mẹ có hỏi chúng con muốn được bảo vệ bằng cách nào không?”

Không ai trả lời được.

Bữa cơm đoàn tụ cuối cùng cũng bắt đầu khi mặt trời đã lên.

Bà nội hâm lại đồ ăn.

Bác cả ngồi đúng chiếc ghế bà giữ cho ông suốt hai mươi năm.

Nhưng niềm vui không còn nguyên vẹn.

Mỗi món ăn đều có vị của thời gian đã mất.

Trần Vũ ngồi cách bố một ghế.

Không gần.

Không quá xa.

Khi bà nội gắp cho anh miếng thịt, anh chỉ nói:

“Cảm ơn bà.”

Bà nhìn anh hồi lâu rồi hỏi:

“Con có ở lại không?”

Trần Vũ đáp:

“Con chưa biết.”

Bác cả cúi đầu.

Ông hiểu câu trả lời ấy không chỉ dành cho cháu với bà.

Mà còn dành cho con với cha.

Sau bữa cơm, chú hai mở cổng.

Con chó giữ nhà chạy đến gần bác cả, ngửi tay ông rồi nằm xuống.

Cô út nhìn cảnh ấy, quay mặt lau nước mắt.

Bác cả nói:

“Nếu em vẫn muốn đuổi anh, anh sẽ đi.”

Cô út đáp:

“Em muốn anh trả lời một câu.”

“Em hỏi đi.”

“Ngày chị dâu mất, anh đang ở đâu?”

“Ở một thành phố phía tây.”

“Anh có biết hôm đó chị ấy gọi tên anh không?”

Bác cả không nói được.

Cô út lấy từ phòng ra một chiếc hộp.

Trong đó là khăn tay cũ, tấm ảnh cưới và một lá thư.

“Chị ấy viết trước khi mất.”

Bác cả nhận lá thư.

Tay ông run đến mức không mở nổi.

Cô út quay đi.

“Đọc một mình.”

Bác ngồi dưới gốc hòe.

Hai mươi năm sau ngày rời nhà, ông cuối cùng nhận được lời nhắn của người vợ đã chờ mình cả đời.

Nhưng khi mở lá thư, bên trong chỉ có một câu:

“Em không trách anh đi, em chỉ tiếc anh không tin em đủ mạnh để cùng anh đối diện.”

Bác cả gục đầu.

Không ai đến an ủi.

Có những nỗi đau không thể xoa dịu bằng vài lời.

Chỉ có thể để người gây ra nó ngồi bên cạnh, chịu đựng đầy đủ.

CHƯƠNG 3 BỮA CƠM KHÔNG CÒN NGUỘI

Ba tháng sau, khu xưởng cũ bị phong tỏa để kiểm tra.

Các mẫu đất và nước được lấy từ nhiều vị trí.

Một số thùng hóa chất cũ được tìm thấy dưới nền kho phía bắc.

May mắn là mức độ ảnh hưởng chưa đến mức không thể xử lý, nhưng việc cải tạo cần thời gian và kinh phí lớn.

Sự việc khiến cả thị trấn chấn động.

Nhiều người từng làm ở xưởng được mời cung cấp thông tin.

Ông nội chủ động trình bày phần trách nhiệm của mình.

Phùng Khải và những người liên quan cũng bị điều tra theo quy định hiện hành, dựa trên hồ sơ, băng ghi âm và các chứng cứ còn lại.

Không ai trong nhà tôi coi đó là chiến thắng.

Bởi khi sự thật được mở ra, nó không chỉ đánh vào người ngoài.

Nó cũng làm lộ những sai lầm của chính gia đình.

Ông nội không còn ở nhà thường xuyên.

Mỗi lần trở về làm thủ tục, ông đều gầy đi.

Bà nội trách ông, rồi lại lén chuẩn bị quần áo và thuốc.

Hai người đã sống với nhau hơn năm mươi năm. Tình cảm của họ không biến mất sau một đêm, nhưng niềm tin đã có một vết nứt không dễ lành.

Bà nội thường ngồi trước căn phòng cũ của bác cả.

Một lần bà nói với tôi:

“Ta cứ nghĩ chờ một người trở về là đủ.”

“Không đủ sao bà?”

“Không.”

Bà nhìn vào phòng.

“Có người trở về rồi, nhưng hai mươi năm vẫn không quay lại được.”

Bác cả ở lại nhà vài tuần.

Sau đó ông thuê một căn phòng nhỏ gần thị trấn.

Bà nội không hiểu.

“Nhà có phòng, sao con không ở?”

Bác đáp:

“Con cần tự học cách sống gần mọi người trước.”

Chú hai nói:

“Anh sợ chúng tôi nhắc chuyện cũ?”

“Không. Anh sợ mình lại dùng hai chữ gia đình để yêu cầu mọi người tha thứ quá nhanh.”

Câu nói ấy khiến chú hai im lặng.

Trần Vũ không ở cùng bố.

Anh làm việc ở một thành phố cách đó vài giờ tàu.

Mỗi cuối tuần, bác cả đều đến ga chờ.

Có tuần Trần Vũ về.

Có tuần không.

Bác vẫn đứng đợi đến khi chuyến tàu cuối rời ga.

Tôi từng hỏi:

“Bác biết anh ấy không về, sao vẫn chờ?”

Bác nói:

“Bà nội cháu đã chờ bác hai mươi năm. Bác mới chờ vài tuần, chưa đáng là gì.”

Trần Vũ không hoàn toàn lạnh lùng.

Anh nhận những tin nhắn cần thiết.

Cho phép bác biết địa chỉ.

Thỉnh thoảng gửi một bức ảnh bữa ăn.

Nhưng anh không gọi “bố”.

Lần đầu tiên họ ngồi ăn riêng là vào ngày giỗ chị dâu cả.

Bác cả chuẩn bị đồ cúng.

Ông không biết món chị thích đã thay đổi thế nào sau khi mình đi.

Cô út giúp nấu.

Trần Vũ đến muộn.

Anh đặt bó hoa trắng trước ảnh mẹ rồi hỏi:

“Bố có đọc thư không?”

Bác cả đáp:

“Đọc rồi.”

“Bố hiểu không?”

“Hiểu.”

“Bố nghĩ mẹ không trách thật sao?”

Bác nhìn tấm ảnh.

“Không. Mẹ con vẫn trách.”

“Vậy tại sao bà viết không trách?”

“Vì bà ấy không muốn lúc cuối đời vẫn giữ con trong oán giận.”

Trần Vũ cúi đầu.

Bác nói tiếp:

“Nhưng không trách không có nghĩa là không đau.”

Hai cha con ngồi đối diện.

Rất lâu không ai động đũa.

Sau đó Trần Vũ đẩy bát cơm về phía bố.

“Ăn đi. Cơm nguội rồi.”

Bác cả cầm đũa, mắt đỏ lên.

Đó chưa phải tha thứ.

Nhưng là lần đầu tiên con trai cho phép ông ngồi cùng bàn.

Bố tôi bắt đầu điều trị tâm lý một cách nghiêm túc.

Ký ức trở lại không hề dễ chịu.

Ông thường thức dậy giữa đêm khi nghe tiếng máy chạy.

Có lần mất điện, ông lập tức hoảng loạn, gọi tên bác cả.

Mẹ ôm lấy ông.

“Anh đang ở nhà.”

Bố thở dốc.

“Kho tối quá.”

“Không có kho nào cả.”

“Có.”

Mẹ sửa lời:

“Kho có thật. Nhưng anh đã ra khỏi đó rồi.”

Câu ấy giúp bố bình tĩnh hơn.

Ông không còn cố phủ nhận ký ức.

Ông học cách nhìn nó như một phần đã xảy ra, không phải thứ đang lặp lại.

Chiếc còi đồng được ông đặt trên bàn làm việc.

Trước đây ông giấu trong ngăn kéo.

Bây giờ ông nói:

“Nó không chỉ gắn với đêm đó. Nó còn là thứ anh cả tặng bố.”

Một buổi chiều, bác cả đến.

Hai anh em ngồi trong sân.

Bố hỏi:

“Tại sao anh nhận tội lấy tiền xưởng?”

“Vì bố bảo nếu anh không nhận, em sẽ bị đưa đi làm chứng.”

“Anh sợ em?”

“Anh sợ họ tiếp tục tác động đến em.”

“Anh có giận em không?”

“Em mới mười một tuổi.”

“Nhưng anh mất hai mươi năm.”

Bác cả nhìn cây hòe.

“Không phải vì em.”

“Anh có thể đã nói thật ngay từ đầu.”

“Anh cũng sợ.”

Bố ngạc nhiên.

Bác cười cay đắng.

“Mọi người cứ nghĩ anh cả phải mạnh. Nhưng anh cũng chỉ là một người trẻ có vợ và con nhỏ. Khi họ gửi chiếc giày của con trai đến cửa, anh đã mất hết lý trí.”

“Anh bỏ đi vì nghĩ như vậy sẽ cứu mọi người.”

“Phải.”

“Nhưng anh không tin chúng em có thể cùng gánh.”

“Đó là sai lầm lớn nhất.”

Bố lấy chiếc còi.

“Anh còn nhớ âm thanh không?”

“Nhớ.”

Bố thổi một tiếng.

Âm thanh vang lên trong sân, trong trẻo hơn tôi tưởng.

Bà nội từ bếp chạy ra, mặt tái.

Nhưng lần này ông nội không có ở đó để quát tắt điện.

Không ai cấm.

Bố thổi thêm lần nữa.

Bác cả cười.

“Còi Nhỏ.”

Bố cũng cười.

Lần đầu tiên biệt danh ấy không mang theo bóng tối.

Cô út mất nhiều thời gian hơn để chấp nhận bác.

Cô từng rất thân với chị dâu cả.

Trong những năm bác mất tích, cô chứng kiến chị dâu vừa làm việc vừa nuôi con.

Cô từng đưa chị đi viện.

Từng thấy chị giữ điện thoại cũ dù không ai gọi.

Bác cả biết mình không thể chỉ nói xin lỗi.

Ông đến sửa lại mái nhà chị dâu từng sống.

Sắp xếp lại đồ đạc.

Xin phép Trần Vũ lập một góc tưởng niệm nhỏ.

Ông cũng trả lại toàn bộ số tiền đã gửi nhưng bị giữ, cộng với khoản tiết kiệm hai mươi năm, cho con trai.

Trần Vũ không nhận.

“Con không cần tiền để tha thứ.”

Bác đáp:

“Đây không phải tiền mua sự tha thứ.”

“Vậy là gì?”

“Là phần trách nhiệm bố đã không làm khi con lớn lên.”

“Con tự nuôi được mình.”

“Bố biết. Nhưng con mạnh không có nghĩa bố được miễn trách nhiệm.”

Cuối cùng, Trần Vũ đồng ý dùng một phần tiền đó để sửa lại khu đất quanh mộ mẹ và hỗ trợ chương trình kiểm tra sức khỏe cho những người từng làm ở xưởng.

Bác cả không phản đối.

Ông nói:

“Tiền trở về đúng chỗ là được.”

Chú hai là người thay đổi rõ nhất.

Trước kia chú luôn nói mình là người chịu thiệt nhất vì ở lại chăm bố mẹ.

Sau khi biết tiền bác cả gửi từng tồn tại, chú càng giận ông nội.

Nhưng rồi chú cũng nhận ra mình đã dùng sự hy sinh của bản thân để có quyền phán xét người khác.

Một ngày, chú đến căn phòng thuê của bác.

“Anh chuyển về nhà đi.”

Bác ngẩng đầu khỏi nồi mì.

“Tại sao?”

“Mẹ nhớ anh.”

“Còn em?”

Chú hai ngồi xuống.

“Em vẫn giận.”

“Anh biết.”

“Nhưng em không muốn mỗi lần giận lại khóa cổng.”

Bác cả nhìn em trai.

Chú nói tiếp:

“Hôm anh về, em khóa cửa không chỉ vì ghét anh.”

“Vì gì?”

“Em sợ anh quay lại, mọi người sẽ thấy những gì em làm hai mươi năm qua không còn quan trọng.”

Bác lặng đi.

“Em nghĩ nếu anh được tha thứ, phần hy sinh của em sẽ mất giá.”

“Không.”

Bác kéo ghế.

“Em ở lại chăm bố mẹ là thật. Không ai lấy điều đó khỏi em.”

“Nhưng em cũng đã đối xử tệ với anh.”

“Anh đã để em gánh quá nhiều.”

Hai anh em không ôm nhau.

Họ chỉ ngồi ăn mì.

Nhưng khi về, chú hai cầm hộp đồ ăn bác gói cho con mình.

Từ đó, cổng nhà không còn khóa khi bác đến.

Cô út vẫn ít nói.

Một hôm, con chó giữ nhà bị bệnh.

Bác cả đưa nó đi khám.

Cô út hỏi:

“Anh không sợ nó sao? Ngày anh về em đã thả nó dọa anh.”

Bác vuốt đầu con chó.

“Nó chỉ làm theo người giữ dây.”

Cô út cúi đầu.

“Anh đang mắng em?”

“Không.”

“Vậy sao nói thế?”

“Vì trước kia anh cũng giống nó.”

“Ý anh là gì?”

“Anh bị nỗi sợ giữ dây, kéo đi suốt hai mươi năm.”

Cô út nhìn anh.

Một lúc sau cô nói:

“Chị dâu từng bảo nếu anh về, chị ấy sẽ đánh anh một trận.”

Bác cười buồn.

“Anh biết.”

“Sau đó chị ấy lại bảo sẽ nấu mì cho anh.”

Nước mắt bác rơi xuống bộ lông con chó.

Cô út quay mặt.

“Em vẫn chưa tha thứ.”

“Anh không ép.”

“Nhưng lần sau đến nhà, đừng đứng ngoài cổng.”

Bác khẽ gật đầu.

Mùa đông năm ấy, ông nội trở về nhà trong một khoảng thời gian ngắn để điều trị bệnh cũ.

Ông yếu hơn nhiều.

Bữa cơm đầu tiên có đủ bốn người con được tổ chức vào đêm giao thừa.

Bà nội nấu một bàn đầy thức ăn.

Lần này không ai đợi đến nguội.

Bác cả ngồi bên trái ông.

Chú hai bên phải.

Bố và cô út đối diện.

Trần Vũ cũng về.

Không khí ban đầu rất gượng gạo.

Ông nội nâng chén trà.

“Ta nợ các con…”

Bác cả ngắt lời:

“Bố đừng dùng một câu xin lỗi để khép hết.”

Ông nội đặt chén xuống.

“Ta biết.”

“Vậy bố muốn nói gì?”

“Ta muốn kể lại đúng sự thật.”

Ông lấy ra một cuốn sổ mới.

Trong đó ông viết toàn bộ sự việc theo trí nhớ.

Không đổ lỗi.

Không giảm nhẹ.

Ông ghi mình đã nhận tiền, che giấu, ngăn cản việc cấp cứu và ép con trai im lặng.

Ông nói:

“Ta sẽ giao bản này cho luật sư.”

Bố tôi hỏi:

“Bố có sợ không?”

“Sợ.”

“Vậy sao vẫn làm?”

Ông nội nhìn chiếc còi trên bàn.

“Vì ta đã dùng nỗi sợ để điều khiển cả nhà quá lâu.”

Bà nội đặt đĩa bánh bột ngô xuống.

Bà cũng lấy chiếc nhẫn của Trịnh Văn Đông ra.

“Ta sẽ giao nốt thứ này.”

Cô út hỏi:

“Mẹ không tiếc sao?”

“Ta tiếc ba mươi năm đã giữ nó.”

Bữa cơm tiếp tục.

Không ai nói chuyện quá khứ đã được tha thứ.

Không ai giả vờ gia đình lại như xưa.

Nhưng lần đầu tiên, mọi người ngồi cùng bàn mà không cần che giấu điều gì dưới bàn.

Sau bữa ăn, điện trong làng bất ngờ chập chờn.

Ánh đèn tắt.

Cả phòng tối om.

Bà nội kêu lên.

Bố tôi cứng người.

Tôi định bật đèn điện thoại thì nghe tiếng bác cả.

“Còi Nhỏ.”

Bố thở chậm lại.

“Em đây.”

Bác nói:

“Thổi còi đi.”

Bố đưa chiếc còi lên môi.

Một tiếng trong trẻo vang lên giữa bóng tối.

Rồi tiếng thứ hai.

Tiếng thứ ba.

Con chó ngoài sân sủa vài tiếng, sau đó im.

Không ai ra lệnh tắt điện.

Không ai đập vỡ chén.

Không ai chạy trốn.

Khi đèn sáng trở lại, ông nội đang khóc.

Bác cả nhìn bố.

“Em còn sợ không?”

Bố đáp:

“Vẫn sợ.”

“Nhưng sao?”

“Nhưng em biết mình đang ở đâu.”

Bác cả gật đầu.

Đó cũng là câu trả lời cho cả gia đình.

Họ vẫn đau.

Vẫn giận.

Vẫn có những điều không thể bù đắp.

Nhưng cuối cùng, họ biết mình đang đứng ở đâu: không còn trong kho số ba, không còn trong đêm mưa hai mươi năm trước, không còn trước cánh cổng bị khóa.

Sau giao thừa, bác cả chuyển về căn phòng cũ.

Bà nội thay chăn mới.

Bác nói:

“Mẹ không cần làm vậy.”

Bà đáp:

“Ta đã thay chăn cho con suốt hai mươi năm. Lần này con tự giặt.”

Bác bật cười.

Bà cũng cười trong nước mắt.

Trần Vũ không gọi ông là bố ngay.

Mãi đến một buổi sáng đầu xuân, khi bác chuẩn bị lên xe đến cơ quan làm việc, Trần Vũ đứng ngoài cổng.

Anh đưa cho bác hộp thức ăn.

“Bố mang theo.”

Bác cả đứng chết lặng.

Trần Vũ quay mặt.

“Chỉ là cách gọi thôi. Đừng nghĩ con đã quên hết.”

Bác siết hộp cơm.

“Bố biết.”

“Cũng đừng khóc ngoài đường.”

“Bố không khóc.”

“Rõ ràng đang khóc.”

Bác lau mắt, cười.

Cánh cổng phía sau họ mở rộng.

Chú hai đang sửa bản lề.

Cô út cho con chó nằm bên hiên.

Bố tôi đứng dưới gốc hòe, thổi chiếc còi đồng gọi tôi xuống ăn sáng.

Mẹ và bà nội bày bát đũa.

Mâm cơm không quá lớn.

Chỉ có cháo, trứng, dưa muối và bánh nóng.

Nhưng không ai phải chờ đến nguội.

Về sau, mỗi khi nhắc đến ngày bác cả trở về, người trong nhà vẫn nhớ cảnh chú hai khóa cổng, cô út thả chó, ông nội đập chén và ra lệnh tắt điện.

Người ngoài nghe đến đó thường hỏi:

“Rốt cuộc vì sao ông cụ sợ biệt danh Còi Nhỏ đến thế?”

Tôi chỉ nói:

“Vì có những cái tên không đơn thuần là cách gọi. Chúng là chiếc chìa khóa mở lại ký ức mà người ta đã dùng cả đời để khóa kín.”

Nhưng điều quan trọng nhất không phải bí mật trong kho số ba.

Cũng không phải cuốn sổ khiến một người phải lưu lạc hai mươi năm.

Điều quan trọng nhất là sau khi sự thật được mở ra, mỗi người đã chọn làm gì.

Có người tiếp tục đổ lỗi.

Có người dùng hy sinh để đòi quyền phán xét.

Có người lấy tình thân làm lý do che giấu.

Nhưng cũng có người dám thừa nhận mình đã sai.

Dám ngồi chờ một người chưa thể tha thứ.

Dám mở lại cánh cổng từng chính tay mình khóa.

Và dám gọi một biệt danh từng bị cấm, không phải để kéo ai trở về bóng tối, mà để nhắc rằng trong bóng tối ấy, họ chưa bao giờ thật sự chỉ có một mình.

Bác cả mất hai mươi năm mới trở về nhà.

Nhưng cả gia đình phải mất thêm rất lâu mới hiểu:

Đoàn tụ không phải khoảnh khắc một người bước qua cánh cửa.

Đoàn tụ là khi những người ở hai phía cánh cửa đều thôi dùng nỗi sợ để khóa nhau lại.

‼️‼️‼️Lưu ý cuối cùng dành cho người đọc: Nội dung truyện ngắn trên chỉ mang tính giải trí, hư cấu. Tất cả tình tiết, cốt truyện không chỉ trích, xúc phạm bất cứ cá nhân, tổ chức nào. Đây chỉ là truyện ngắn và không phải là một sự kiện, tin tức báo chí.

.