Min menu

Pages

TRUYỆN MỚI

NGÀY GIỖ BỐ CHỒNG, MẸ CHỒNG HẤT CẢ MÂM CƠM TÔI NẤU XUỐNG ĐẤT, ÉP TÔI GIAO TOÀN BỘ TIỀN PHÚNG ĐIẾU CHO EM CHỒNG, CÒN LÉN ĐỐT MỘT TỜ GIẤY TRONG BÁT HƯƠNG RỒI THÌ THẦM: “TỪ HÔM NAY, KHÔNG AI CÒN TRANH ĐƯỢC PHẦN CỦA NÓ.” CHỒNG TÔI CHỈ LẠNH LÙNG BẢO: “EM LÀ DÂU, ĐỪNG SO ĐO VỚI NGƯỜI NHÀ.” TÔI KHÔNG CÃI NỬA LỜI, CHỈ NHẶT MẢNH GIẤY CHƯA CHÁY HẾT, ĐẶT MỘT PHONG BÌ ĐEN LÊN BÀN THỜ RỒI LÙI RA NGOÀI. MƯỜI PHÚT SAU, LUẬT SƯ BƯỚC VÀO, LẬP TỨC YÊU CẦU KHÓA TOÀN BỘ CỬA, CÒN MẸ CHỒNG VỪA NHÌN THẤY THỨ TRONG PHONG BÌ ĐÃ TÁI MẶT, LAO TỚI GIẬT LẤY…TRUYỆN NGẮN

 #Truyệnngắn #Hưcấu #Sángtác Nội dung truyện ngắn trên chỉ mang tính giải trí, hư cấu.

CHƯƠNG 1: PHONG BÌ ĐEN TRÊN BÀN THỜ

“BÀ ĐANG ĐỐT CÁI GÌ VẬY?”

Tiếng tôi vang lên giữa phòng thờ đúng lúc một góc giấy cuối cùng vừa cuộn lại trong ngọn lửa đỏ.

Mẹ chồng tôi, bà Tưởng Mỹ Phượng, giật bắn người.

Bà quay phắt lại, bàn tay vẫn cầm đôi đũa tre dùng để gắp tờ giấy vào bát hương. Trong khoảnh khắc ấy, vẻ hốt hoảng hiện rõ trên gương mặt bà. Nhưng chỉ vài giây sau, nó đã biến thành sự giận dữ quen thuộc.

“Cô vào đây làm gì?”

Tôi đứng ngay ngưỡng cửa, trên tay còn bưng bát canh hạt sen vừa nấu xong. Hơi nóng bốc lên làm mắt tôi cay xè.

Phía sau lưng tôi, tiếng cười nói của hơn ba mươi người họ hàng nhà họ Tưởng vẫn vang lên trong đại sảnh. Đó là ngày giỗ đầu của bố chồng tôi, ông Tưởng Đức Thành.

Từ sáng sớm, tôi đã dậy lúc bốn giờ, tự tay chuẩn bị mười hai món cúng, nấu bốn bàn tiệc, sắp xếp bàn thờ, lau từng chiếc chén ngọc mà bố chồng từng yêu thích.

Thế nhưng khi nghi thức sắp bắt đầu, mẹ chồng lại lén đóng cửa phòng thờ, đốt một tờ giấy ngay trong bát hương.

Tôi nhìn xuống.

Một góc giấy chưa cháy hết rơi bên cạnh chân bàn thờ.

Trên đó còn sót lại hai chữ màu đen.



QUYỀN SỞ…

Mẹ chồng lập tức bước tới, chắn trước mặt tôi.

“Đồ cúng chuẩn bị xong chưa?”

Tôi không trả lời.

“Con hỏi mẹ đang đốt gì.”

“Giấy vàng mã.”

“Giấy vàng mã có dấu đỏ sao?”

Bà khựng lại.

Tôi đặt bát canh xuống chiếc bàn nhỏ gần cửa rồi cúi người định nhặt mảnh giấy.

Mẹ chồng nhanh hơn.

Bà dùng chân giẫm lên nó.

“Cô đừng động vào đồ cúng!”

Tôi ngẩng đầu nhìn bà.

“Đó không phải đồ cúng.”

“Cô đang chất vấn tôi à?”

“Con chỉ hỏi một câu.”

“Đây là nhà họ Tưởng. Tôi muốn đốt gì trước bàn thờ chồng tôi cũng không đến lượt cô quản.”

Nói xong, bà quay người mở cửa lớn, cố tình nói thật to:

“Đồ ăn đã xong chưa? Họ hàng ngồi chờ cả rồi, làm dâu mà cứ lề mề!”

Mấy người họ hàng gần đó lập tức nhìn sang.

Tôi biết bà đang muốn biến tôi thành người làm hỏng không khí ngày giỗ.

Tôi không nói thêm.

Nhưng trước khi bưng bát canh ra ngoài, tôi vẫn kịp nhìn thấy dưới mép giày của bà có một đường viền màu xanh nhạt.

Đó không phải giấy vàng mã.

Đó là giấy có đóng dấu.

Và tôi đã từng nhìn thấy màu giấy ấy ở đâu đó.


Bố chồng tôi qua đời cách đây đúng một năm.

Khi còn sống, ông đối xử với tôi khá tốt. Trong căn nhà họ Tưởng ở vùng ven Tô Châu, ông là người duy nhất chưa từng coi tôi như người ngoài.

Tôi tên là Lâm Uyển Thanh, kết hôn với Tưởng Minh Hạo được sáu năm.

Nhà họ Tưởng có hai người con.

Minh Hạo là con trai cả.

Em gái anh là Tưởng Như Ý, nhỏ hơn anh bốn tuổi, đã ly hôn và sống cùng con trai trong một căn hộ thuê ở khu mới.

Từ khi bố chồng mất, mẹ chồng gần như ngày nào cũng nhắc đến chuyện phải giúp Như Ý mua nhà.

Bà nói:

“Con gái ly hôn đã đủ khổ rồi. Làm anh chị phải biết đỡ đần.”

Minh Hạo luôn gật đầu.

Tôi không phản đối việc giúp em chồng.

Nhưng tôi không đồng ý lấy toàn bộ tiền tiết kiệm của vợ chồng mình để mua căn hộ đứng tên riêng Như Ý.

Vì thế, từ nửa năm trước, quan hệ giữa tôi và nhà chồng bắt đầu căng thẳng.

Mẹ chồng bảo tôi ích kỷ.

Như Ý nói tôi sợ cô ấy sống tốt hơn.

Còn chồng tôi chỉ lặp đi lặp lại một câu:

“Người nhà với nhau, em đừng tính toán.”

Ngày giỗ hôm ấy, họ hàng từ Nam Kinh, Vô Tích và Thượng Hải đều về đông đủ.

Trên chiếc bàn tròn lớn giữa đại sảnh, một chiếc hộp gỗ đỏ được đặt ngay ngắn để nhận tiền phúng điếu.

Theo lệ nhà họ Tưởng, số tiền đó lẽ ra sẽ dùng vào việc tu sửa phần mộ, làm lễ tưởng niệm và thờ cúng những năm sau.

Nhưng ngay khi nghi thức vừa kết thúc, mẹ chồng bất ngờ đứng dậy, vỗ nhẹ lên hộp tiền.

“Hôm nay nhân lúc mọi người đều có mặt, tôi muốn nói một chuyện.”

Cả đại sảnh dần im xuống.

Bà kéo Như Ý ngồi cạnh mình, giọng đầy thương cảm:

“Như Ý ly hôn đã hai năm, một mình nuôi con rất khó khăn. Bố nó trước khi mất vẫn luôn lo cho nó. Vì thế, toàn bộ tiền phúng điếu hôm nay, tôi quyết định giao cho Như Ý làm tiền đặt cọc mua nhà.”

Như Ý cúi đầu, giả vờ lau nước mắt.

Mấy người cô bác gật gù.

“Cũng nên.”

“Con gái đơn thân không dễ dàng.”

“Ông Đức Thành chắc cũng muốn như vậy.”

Tôi đứng cạnh bàn, hai tay vẫn còn dính mùi dầu ăn.

Tôi hỏi:

“Việc tu sửa phần mộ thì sao?”

Không khí lập tức thay đổi.

Mẹ chồng nhìn tôi.

“Cô có ý kiến?”

“Con chỉ hỏi vì tuần trước mẹ nói phần mộ cần sửa lại bậc đá và mái che.”

“Chuyện đó để sau.”

“Còn tiền hương khói những năm tới?”

“Nhà cô nghèo đến mức không lo nổi mấy nén hương sao?”

Một vài người họ hàng quay mặt đi.

Tôi nghe thấy Như Ý khẽ cười.

Tôi cố giữ giọng bình tĩnh.

“Đây không phải tiền riêng của con. Nhưng là tiền mọi người gửi để tưởng nhớ bố, nên ít nhất cũng phải nói rõ mục đích sử dụng.”

Mẹ chồng đập mạnh tay xuống bàn.

“Cô đang ám chỉ tôi chiếm tiền của chồng mình?”

“Con không nói vậy.”

“Nhưng ý cô là vậy!”

Bà đứng bật dậy, chỉ vào mặt tôi.

“Nhà họ Tưởng nuôi cô ăn ở sáu năm. Bây giờ đến chút tiền dành cho em gái chồng, cô cũng muốn giữ?”

Tôi nhìn sang Minh Hạo.

Anh ngồi cạnh ông chú họ, khuôn mặt lạnh lùng.

“Anh nói gì đi.”

Anh cau mày.

“Có gì mà nói?”

“Anh đồng ý giao toàn bộ tiền phúng điếu cho Như Ý?”

“Đó là quyết định của mẹ.”

“Tiền này không phải của riêng mẹ.”

Minh Hạo đặt chén trà xuống.

“Uyển Thanh, hôm nay là ngày giỗ bố. Em đừng làm lớn chuyện.”

Tôi nghe câu ấy, lòng chợt lạnh.

“Mình đang làm lớn chuyện sao?”

“Em biết Như Ý đang khó khăn.”

“Khó khăn không có nghĩa là muốn lấy khoản nào cũng được.”

Như Ý lập tức khóc lớn.

“Chị dâu, chị cứ nói thẳng là không muốn em có nhà đi!”

Tôi quay sang cô ta.

“Căn nhà em định mua giá ba triệu hai trăm nghìn tệ. Tiền phúng điếu hôm nay chỉ được một phần nhỏ. Phần còn lại ai trả?”

Mẹ chồng nhìn chồng tôi.

“Minh Hạo đã đồng ý vay thêm.”

Tôi sững lại.

“Vay bằng gì?”

Minh Hạo tránh mắt.

Tôi lập tức hiểu có chuyện anh giấu mình.

“Anh đã ký giấy vay?”

“Chưa.”

“Dùng tài sản nào bảo đảm?”

“Uyển Thanh…”

“Em hỏi dùng tài sản nào?”

Mẹ chồng chen vào:

“Căn nhà này.”

Tôi nhìn bà.

Căn nhà họ đang ngồi là ngôi nhà cổ hai tầng ở ngõ Bạch Tháp, Tô Châu. Đây từng là tài sản của bố chồng tôi, nhưng sáu tháng trước khi qua đời, ông đã làm một việc mà không ai trong họ Tưởng biết.

Ông chuyển một nửa quyền sở hữu căn nhà sang tên tôi.

Lý do rất đơn giản.

Năm ấy, công ty vật liệu xây dựng của nhà họ Tưởng gặp khó khăn. Chính tôi đã bán căn hộ nhỏ do mẹ ruột để lại, góp một triệu sáu trăm nghìn tệ để giúp gia đình trả nợ và giữ lại căn nhà tổ.

Bố chồng từng nói:

“Tiền của con cứu căn nhà này. Phần của con phải được ghi rõ.”

Tôi đã từ chối vài lần.

Nhưng ông vẫn làm thủ tục.

Ông bảo:

“Con trai ta mềm lòng, còn Mỹ Phượng quá thiên vị Như Ý. Nếu ta không để lại giấy trắng mực đen, sau này con sẽ chịu thiệt.”

Tôi không kể với Minh Hạo về việc sang tên.

Không phải vì muốn giấu chồng.

Mà vì bố chồng yêu cầu tôi giữ kín đến sau ngày giỗ đầu. Ông nói trong một năm ấy, ông muốn xem mọi người sẽ đối xử với tôi ra sao khi nghĩ tôi không có quyền gì với căn nhà.

Hôm nay chính là ngày cuối cùng của một năm.

Tôi nhìn mẹ chồng.

“Căn nhà này không thể tự ý thế chấp.”

Bà cười lạnh.

“Tại sao không?”

“Vì không phải một mình mẹ có quyền quyết định.”

Câu nói khiến bà hơi khựng lại.

Minh Hạo nhíu mày.

“Em nói vậy là sao?”

Tôi chưa kịp trả lời thì mẹ chồng bỗng bưng cả mâm cá hấp trước mặt, hất mạnh xuống đất.

Tiếng sứ vỡ vang khắp đại sảnh.

Nước sốt nóng bắn lên gấu váy tôi.

Mọi người đồng loạt im bặt.

Bà chỉ tay vào những mảnh bát đĩa vỡ.

“Tôi đã nhịn cô đủ rồi!”

“Ngày giỗ bố chồng mà cô đứng đây tranh tiền với em chồng, tranh nhà với mẹ chồng. Cô còn có tư cách làm dâu sao?”

Tôi cúi nhìn mâm cá mình đã mất gần hai giờ chuẩn bị nằm vỡ nát dưới đất.

Một cảm giác mệt mỏi dâng lên.

Không phải vì món ăn.

Mà vì sáu năm qua, tôi luôn cố gắng để được xem như người nhà.

Nhưng trong mắt họ, tôi chỉ là một người phải làm việc, phải nhường nhịn, phải im lặng.

Minh Hạo vẫn ngồi đó.

Anh nhìn tôi, lạnh lùng nói:

“Em là dâu, đừng so đo với người nhà.”

Câu nói ấy khiến lòng tôi hoàn toàn nguội lạnh.

Tôi hỏi rất khẽ:

“Vậy em không phải người nhà sao?”

Anh có vẻ mất kiên nhẫn.

“Anh không muốn tranh luận lúc này.”

“Anh chỉ cần trả lời.”

“Uyển Thanh, đừng ép anh.”

Tôi bật cười.

Người bị ép từ đầu đến cuối là tôi.

Nhưng anh lại nói tôi đang ép anh.

Mẹ chồng giật chiếc hộp tiền phúng điếu về phía Như Ý.

“Đếm đi.”

Như Ý lập tức mở nắp.

Tôi nhìn những phong bì đỏ bên trong, rồi nhìn bàn thờ bố chồng.

Khói hương vẫn còn bay.

Dưới chân bàn thờ, mảnh giấy chưa cháy hết vẫn nằm đó.

Tôi không nói thêm.

Tôi lấy cây chổi nhỏ, cúi xuống dọn những mảnh bát.

Khi đi ngang qua bàn thờ, tôi khéo léo dùng khăn tay nhặt mảnh giấy cháy dở lên.

Mẹ chồng nhìn thấy.

Bà lập tức lao tới.

“Cô làm gì?”

Tôi lùi lại.

“Mẹ sợ sao?”

“Đưa đây!”

Bà giật tay tôi.

Trong lúc giằng co, mảnh giấy rơi xuống nền.

Phần chữ còn lại lộ ra.

GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU…

Cả phòng im lặng.

Tôi cúi xuống nhặt.

Mẹ chồng nhanh chóng giẫm lên một lần nữa.

Nhưng tôi đã nhìn thấy dấu đỏ ở góc dưới.

Dấu của văn phòng công chứng.

Tôi ngẩng lên.

“Mẹ đang đốt giấy tờ căn nhà?”

Bà quát:

“Chỉ là bản sao cũ!”

“Bản sao của ai?”

“Không liên quan đến cô.”

“Vậy tại sao phải đốt trong bát hương?”

Như Ý bước tới.

“Chị dâu, chị định phá ngày giỗ đến mức nào?”

Tôi nhìn cô ta.

“Em biết mẹ đốt gì không?”

“Không cần biết. Mẹ muốn đốt thì đốt.”

“Có lẽ em nên biết.”

Tôi lấy điện thoại ra, chụp lại mảnh giấy dưới chân bà.

Mẹ chồng hoảng hốt định giật điện thoại.

Tôi tránh được.

“Cô xóa ngay!”

“Không.”

“Đây là nhà tôi!”

“Từ khi nào?”

Bà sững lại.

Tôi không giải thích.

Tôi chỉ lấy trong túi áo ra một phong bì đen.

Phong bì ấy tôi đã chuẩn bị từ ba ngày trước.

Bên trong là bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu căn nhà, bản ghi âm của bố chồng và giấy hẹn với luật sư.

Tôi bước đến bàn thờ, đặt phong bì ngay trước di ảnh ông.

Mẹ chồng nhìn chằm chằm.

“Đó là gì?”

“Tài liệu bố để lại.”

Sắc mặt bà biến đổi.

“Đưa cho tôi.”

“Không.”

Bà lao tới.

Tôi lùi ra sau.

“Uyển Thanh!” Minh Hạo đứng dậy. “Em đang làm gì vậy?”

“Tôi đang hoàn thành lời hứa với bố anh.”

“Lời hứa gì?”

Tôi nhìn đồng hồ.

“Còn mười phút nữa anh sẽ biết.”

Mẹ chồng nghe vậy càng hoảng.

Bà quay sang em chồng.

“Như Ý, khóa cổng!”

Như Ý lập tức chạy ra ngoài.

Tiếng then sắt kéo mạnh vang lên.

Mấy người họ hàng bắt đầu xì xào.

“Có chuyện gì thế?”

“Phong bì gì vậy?”

“Sao phải khóa cổng?”

Tôi nhìn mẹ chồng.

Bà đang sợ.

Không phải tức giận.

Là sợ thật sự.

Điều đó chứng minh bà biết trong phong bì có thể là gì.

Bà hạ giọng:

“Uyển Thanh, hôm nay là ngày giỗ. Có chuyện gì để mai nói.”

“Lúc nãy mẹ nói con không có tư cách làm dâu.”

“Ta đang nóng giận.”

“Còn việc thế chấp nhà?”

“Chỉ là dự tính.”

“Giấy mẹ đốt thì sao?”

“Ta đã nói là bản sao.”

“Bản sao của giấy gì?”

Bà không trả lời.

Tôi lấy điện thoại gọi một cuộc.

“Luật sư Trần, anh vào được rồi.”

Mẹ chồng quay phắt sang cổng.

“Cô gọi ai?”

“Người mà bố đã nhờ.”

Minh Hạo bước tới, cố giữ giọng bình tĩnh.

“Uyển Thanh, em nói rõ đi.”

“Anh không cần hỏi nữa.”

“Anh là chồng em.”

“Từ lúc anh bảo tôi đừng so đo với người nhà, tôi đã hiểu vị trí của mình.”

“Em đừng nói chuyện kiểu đó.”

“Vậy anh muốn tôi nói kiểu nào?”

“Chúng ta đang có khách.”

“Đây không phải khách của tôi.”

Mặt anh tối lại.

Đúng lúc ấy, bên ngoài vang lên tiếng gõ cổng.

Ba tiếng đều đặn.

Một giọng đàn ông cất lên:

“Tôi là luật sư Trần Gia Minh. Tôi đến theo giấy ủy quyền của ông Tưởng Đức Thành.”

Mẹ chồng tái mặt.

Bà quay sang Như Ý.

“Không được mở.”

Nhưng vài người họ hàng lớn tuổi đã bắt đầu thấy bất thường.

Ông chú hai của chồng tôi nói:

“Mỹ Phượng, nếu anh Đức Thành có giấy tờ để lại thì nên cho luật sư vào.”

“Không có gì cả!”

“Vậy sao chị sợ?”

Câu hỏi ấy khiến bà nghẹn lại.

Tôi bước đến cổng.

Như Ý chắn trước mặt.

“Chị không được mở.”

Tôi nhìn cô ta.

“Tránh ra.”

“Đây là nhà mẹ tôi.”

“Em chắc chứ?”

Cô ta giơ tay định đẩy tôi.

Nhưng Minh Hạo giữ lại.

“Như Ý, thôi đi.”

“Anh còn bênh chị ta?”

“Anh chỉ muốn biết chuyện gì.”

Cuối cùng, ông chú hai tự tay kéo then cổng.

Cánh cổng mở ra.

Luật sư Trần Gia Minh bước vào cùng hai trợ lý và một nhân viên lập biên bản.

Anh khoảng bốn mươi tuổi, mặc áo khoác đen, tay cầm cặp hồ sơ bằng da.

Vừa vào đại sảnh, anh nhìn quanh rồi nói:

“Trước khi mở tài liệu, tôi đề nghị khóa toàn bộ cửa ra vào.”

Mọi người sửng sốt.

Mẹ chồng quát:

“Anh có quyền gì?”

Luật sư Trần bình tĩnh:

“Vì có dấu hiệu tài liệu gốc liên quan đến di sản đang bị tiêu hủy. Tôi cần bảo toàn hiện trạng cho đến khi lập biên bản xong.”

Anh nhìn xuống mảnh giấy cháy dở cạnh bàn thờ.

“Có vẻ tôi đến đúng lúc.”

Mẹ chồng lập tức cúi xuống định nhặt.

Một trợ lý nhanh chóng ngăn lại.

“Xin bà không chạm vào.”

“Đây là nhà tôi!”

Luật sư Trần nhìn bà.

“Điều đó cần được xác định lại.”

Cả họ nhà chồng đồng loạt xôn xao.

Như Ý siết chặt hộp tiền phúng điếu.

Minh Hạo quay sang tôi.

“Uyển Thanh, rốt cuộc là chuyện gì?”

Tôi không trả lời.

Luật sư Trần bước đến bàn thờ, cầm phong bì đen lên.

Mẹ chồng vừa nhìn thấy dấu niêm phong phía sau đã hét lên:

“Không được mở!”

Bà lao tới.

Hai người họ hàng vội giữ lại.

“Chị bình tĩnh!”

“Buông tôi ra!”

“Đó là đồ giả! Tất cả đều là đồ giả!”

Luật sư Trần dừng tay.

“Bà biết bên trong là gì sao?”

Mẹ chồng cứng người.

Tôi nhìn bà.

“Con còn chưa nói.”

Bà bắt đầu run.

Luật sư Trần mở phong bì.

Tờ đầu tiên được lấy ra.

Chỉ mới nhìn thấy góc giấy chứng nhận quyền sở hữu, mặt mẹ chồng đã trắng bệch.

Bà chỉ vào tôi, môi run lên.

“Cô đã biết từ bao giờ?”

Tôi đáp:

“Từ một năm trước.”

“Không thể nào…”

“Bố đưa con đến văn phòng công chứng trước khi mất.”

“Ông ấy không thể làm vậy.”

Luật sư Trần đọc lớn:

“Ông Tưởng Đức Thành tự nguyện chuyển nhượng năm mươi phần trăm quyền sở hữu căn nhà tại ngõ Bạch Tháp cho bà Lâm Uyển Thanh, nhằm hoàn trả khoản tiền bà Lâm đã đóng góp để bảo toàn tài sản gia đình.”

Cả đại sảnh chết lặng.

Chiếc hộp tiền trong tay Như Ý rơi xuống.

Phong bì đỏ đổ tràn ra nền nhà.

Minh Hạo nhìn tôi như không nhận ra người vợ đã sống cùng mình sáu năm.

“Em đứng tên một nửa căn nhà?”

“Đúng.”

“Vì sao không nói với anh?”

“Bố anh yêu cầu giữ kín đến hôm nay.”

Mẹ chồng lắc đầu liên tục.

“Không hợp lệ. Ông ấy bệnh nặng, không tỉnh táo.”

Luật sư Trần lấy tờ thứ hai.

“Có giấy xác nhận năng lực hành vi tại thời điểm ký. Có video, công chứng viên và hai người làm chứng.”

Bà vẫn cố gào lên:

“Tôi là vợ ông ấy! Ông ấy không thể tự ý cho người ngoài!”

Tôi khẽ hỏi:

“Người ngoài?”

Bà im bặt.

Luật sư Trần nhìn mảnh giấy cháy.

“Phần giấy bà vừa đốt có phải bản sao quyết định chuyển nhượng không?”

“Không.”

“Vậy xin bà nhấc chân ra.”

Bà không chịu.

Nhân viên lập biên bản chụp ảnh hiện trạng.

Cuối cùng, ông chú hai phải kéo bà lùi lại.

Mảnh giấy được lấy ra.

Mặc dù cháy gần hết, vẫn còn đủ để đọc tên tôi và một phần số hồ sơ.

Luật sư Trần nói:

“Đây không chỉ là bản sao giấy chứng nhận.”

Anh dùng nhíp tách hai lớp giấy dính vào nhau.

Bên dưới còn một mảnh khác, có chữ ký của bố chồng.

Tôi nhận ra nét chữ ấy.

Nhưng nội dung còn lại chỉ có một dòng:

NẾU PHONG BÌ NÀY BỊ MỞ TRƯỚC NGÀY GIỖ ĐẦU…

Phần sau đã cháy mất.

Luật sư Trần nhìn tôi.

“Có thể bản gốc vẫn còn.”

Mẹ chồng bỗng lao đến giật phong bì đen.

Lần này bà không nhắm vào giấy chứng nhận.

Bà nhắm vào một chiếc chìa khóa đồng nhỏ vừa rơi ra từ đáy phong bì.

Bà chưa kịp chạm tới, tôi đã nhặt lên.

Trên đầu chìa khóa khắc một ký hiệu.

Số 17.

Mẹ chồng nhìn chiếc chìa khóa, cả người run lên.

Tôi hỏi:

“Nó mở thứ gì?”

Bà không trả lời.

Luật sư Trần nhìn về phía bàn thờ.

“Ông Tưởng từng nói, nếu gia đình có người tìm cách tiêu hủy giấy tờ, hãy dùng chìa khóa số 17 mở ngăn kín dưới bệ thờ.”

Mọi ánh mắt đồng loạt hướng về bàn thờ.

Mẹ chồng hét lên:

“Không ai được động vào đó!”

Nhưng lúc ấy, không ai còn nghe lời bà.

Tôi bước đến, quỳ xuống trước bệ gỗ.

Bên dưới lớp chạm khắc hình mây có một lỗ khóa nhỏ gần như bị che kín.

Chiếc chìa khóa vừa vặn.

Tôi xoay một vòng.

Một tiếng “cạch” khô khốc vang lên.

Tấm gỗ bên dưới bật ra.

Bên trong là một chiếc hộp sắt màu đen.

Trên nắp hộp dán một mảnh giấy viết tay.

UYỂN THANH, NẾU CON ĐỌC ĐƯỢC DÒNG NÀY, NGHĨA LÀ ĐÚNG NHƯ TA DỰ ĐOÁN, HỌ ĐÃ KHÔNG COI CON LÀ NGƯỜI NHÀ.

Tôi nhìn dòng chữ, mắt nóng lên.

Minh Hạo đứng phía sau, sắc mặt khó coi.

Luật sư Trần mở hộp.

Bên trong có một cuốn sổ, một máy ghi âm cũ và một bản hợp đồng có chữ ký của mẹ chồng, Như Ý và chồng tôi.

Tôi nhận ra ngày ký.

Chỉ ba ngày trước.

Tiêu đề hợp đồng là:

THỎA THUẬN ỦY QUYỀN THẾ CHẤP VÀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG NHÀ.

Phần chữ ký của tôi vẫn để trống.

Nhưng ngay bên cạnh đã có sẵn một tờ giấy trắng in dấu vân tay màu đỏ.

Tôi quay sang Minh Hạo.

“Anh biết chuyện này?”

Anh tái mặt.

“Anh chỉ ký vào giấy vay.”

“Đây không phải giấy vay.”

“Anh không đọc kỹ.”

Tôi bật cười.

“Anh định thế chấp căn nhà mà không đọc?”

“Anh tin mẹ.”

“Còn tôi?”

Anh không trả lời.

Luật sư Trần lấy máy ghi âm ra.

“Ông Tưởng dặn chỉ được bật vào ngày giỗ đầu, trước mặt những người có tên trong hợp đồng.”

Mẹ chồng lao tới.

“Không được bật!”

Một lần nữa, bà bị ngăn lại.

Luật sư nhấn nút.

Tiếng rè vang lên vài giây.

Sau đó là giọng bố chồng tôi.

Yếu nhưng rõ ràng.

“Mỹ Phượng, nếu bà đang nghe đoạn này, có lẽ bà vẫn chọn Như Ý thay vì công bằng.”

Căn phòng im phăng phắc.

“Tôi đã dành cả đời để xây căn nhà này. Nhưng người cứu nó khỏi bị phát mãi không phải bà, không phải Minh Hạo, cũng không phải Như Ý.”

“Là Uyển Thanh.”

“Con bé bán tài sản mẹ ruột để lại, giúp chúng ta trả nợ. Vì vậy, một nửa căn nhà thuộc về nó.”

Mẹ chồng bắt đầu khóc.

“Ông già hồ đồ…”

Giọng ghi âm vẫn tiếp tục.

“Nếu sau khi tôi mất, bà ép con bé nhường phần của nó, dùng căn nhà để lo riêng cho Như Ý hoặc tiêu hủy giấy tờ, luật sư Trần sẽ thay tôi thực hiện điều khoản cuối.”

Luật sư Trần lấy ra một tài liệu khác.

Mẹ chồng nhìn thấy tiêu đề, bỗng ngã ngồi xuống ghế.

ĐIỀU KHOẢN THU HỒI QUYỀN CƯ TRÚ CÓ ĐIỀU KIỆN.

Tôi chưa kịp hiểu thì ông chú hai đã hỏi:

“Có nghĩa là gì?”

Luật sư Trần nhìn mẹ chồng.

“Nếu bà Tưởng Mỹ Phượng có hành vi sử dụng căn nhà trái với thỏa thuận, tìm cách thế chấp, chuyển nhượng hoặc tiêu hủy hồ sơ quyền sở hữu, quyền cư trú suốt đời mà ông Tưởng từng dành cho bà sẽ bị hủy.”

Như Ý hoảng hốt.

“Vậy mẹ tôi sẽ ở đâu?”

Luật sư đáp:

“Đó là việc gia đình bà phải sắp xếp.”

Mẹ chồng lao tới ôm lấy di ảnh chồng.

“Ông không thể đối xử với tôi như vậy!”

Nhưng đoạn ghi âm còn chưa kết thúc.

“Và nếu Minh Hạo biết việc này nhưng vẫn tham gia, phần tài sản tôi để lại cho nó sẽ được chuyển sang quỹ giáo dục mang tên tôi.”

Minh Hạo đứng chết lặng.

Tôi nhìn chồng.

Anh lắp bắp:

“Anh không biết điều khoản đó.”

“Tất nhiên anh không biết.”

Giọng bố chồng tiếp tục vang lên:

“Minh Hạo, nếu con nghe được, cha chỉ muốn hỏi một câu.”

“Ngày vợ con bị cả nhà ép buộc, con đứng về phía ai?”

Không ai nói gì.

Tôi nhìn người đàn ông đã cùng mình sống sáu năm.

Mặt anh trắng như giấy.

Bố chồng đã mất một năm.

Nhưng câu hỏi ấy lại như dành riêng cho đúng khoảnh khắc này.

Luật sư Trần tắt máy.

Anh nhìn tất cả mọi người.

“Từ thời điểm này, căn nhà được tạm thời niêm phong để xác minh giao dịch và bảo toàn tài liệu. Không ai được di chuyển giấy tờ, tiền phúng điếu hoặc tài sản trong hộp sắt.”

Như Ý lập tức ôm hộp tiền.

“Tiền này là của tôi!”

Luật sư nói:

“Chưa phải.”

Mẹ chồng nhìn tôi, ánh mắt đầy tuyệt vọng.

“Uyển Thanh, con nói với luật sư dừng lại.”

Tôi im lặng.

Bà bước tới kéo tay tôi.

“Mẹ chỉ nóng giận. Chuyện thế chấp còn chưa làm.”

Tôi nhìn bà.

“Nhưng giấy đã ký.”

“Chưa có chữ ký của con.”

“Vậy dấu vân tay chuẩn bị sẵn để làm gì?”

Bà không trả lời.

Tôi quay sang Minh Hạo.

“Dấu vân tay đó lấy ở đâu?”

Anh nhìn mẹ mình.

Bà né tránh.

Ngay lúc ấy, luật sư Trần lấy từ hộp sắt ra một phong bì nhỏ khác.

Bên ngoài ghi tên chồng tôi.

Anh mở ra.

Bên trong là một bức ảnh chụp từ camera trong phòng khách ba tháng trước.

Trong ảnh, mẹ chồng đang dùng băng dính lấy dấu vân tay từ chiếc cốc tôi thường uống trà.

Như Ý đứng cạnh cầm một tờ giấy trắng.

Minh Hạo nhìn bức ảnh, rồi nhìn mẹ.

“Mẹ định giả chữ ký và dấu vân tay của Uyển Thanh?”

Bà hét lên:

“Ta chỉ muốn giúp Như Ý!”

“Bằng cách lấy phần nhà của vợ con?”

“Con bé có nhiều thứ rồi!”

“Đó là của cô ấy!”

Lần đầu tiên trong sáu năm, Minh Hạo lớn tiếng với mẹ.

Nhưng đã quá muộn.

Tôi nhìn anh.

“Anh không cần diễn nữa.”

Anh quay sang tôi.

“Uyển Thanh, anh thật sự không biết chuyện dấu vân tay.”

“Nhưng anh biết việc thế chấp.”

“Anh tưởng mẹ sẽ nói với em.”

“Anh ký trước khi nói với tôi.”

“Anh sai.”

“Đúng.”

“Cho anh cơ hội sửa.”

Tôi rút tay khỏi tay mẹ chồng, rồi tháo chiếc nhẫn cưới.

Tôi đặt nó cạnh phong bì đen trên bàn thờ.

Cả căn phòng lặng đi.

Minh Hạo nhìn chiếc nhẫn.

“Em làm gì vậy?”

Tôi nhìn anh.

“Hoàn thành lời hứa thứ hai với bố anh.”

“Lời hứa gì?”

“Nếu đến ngày giỗ đầu, anh vẫn chọn bảo vệ sự thiên vị của gia đình thay vì bảo vệ đúng sai…”

Tôi dừng lại.

“…tôi sẽ rời đi.”

Mẹ chồng bỗng quỳ xuống.

“Uyển Thanh, mẹ xin con.”

Tôi lùi lại.

Không phải vì hả hê.

Mà vì tôi đã mệt đến mức không còn muốn nghe thêm.

Ngoài cổng, một đội nhân viên bước vào, mang theo dây niêm phong và máy ảnh.

Mẹ chồng nhìn họ, hoảng hốt chạy theo tôi.

“Con đừng đi!”

Như Ý cũng khóc:

“Chị dâu, em không cần tiền nữa!”

Minh Hạo chặn trước cổng.

“Uyển Thanh, chúng ta nói chuyện.”

Tôi nhìn ba người.

Chỉ một giờ trước, họ còn nói tôi là dâu, không được so đo với người nhà.

Giờ đây, khi biết tôi đứng tên một nửa căn nhà, tất cả lại chạy theo gọi tôi là người nhà.

Tôi khẽ nói:

“Quá muộn rồi.”

Rồi tôi bước ra khỏi cổng.

Phía sau, tiếng băng niêm phong được kéo mạnh vang lên.

Nhưng không ai biết rằng bí mật lớn nhất vẫn chưa nằm trong giấy sở hữu.

Nó nằm ở cuốn sổ trong hộp sắt.

Và ở trang cuối cùng, bố chồng đã viết tên một người mà cả nhà họ Tưởng tưởng đã biến mất khỏi gia đình suốt hai mươi tám năm.

CHƯƠNG 2: NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CUỐN SỔ

Tôi không về căn hộ chung với Minh Hạo.

Tối hôm đó, tôi thuê một phòng khách sạn nhỏ gần hồ Kim Kê.

Tôi ngồi bên cửa sổ, nhìn ánh đèn phản chiếu trên mặt nước, nhưng trong đầu vẫn vang lên câu hỏi của bố chồng:

“Ngày vợ con bị cả nhà ép buộc, con đứng về phía ai?”

Minh Hạo đã có câu trả lời.

Anh đứng về phía mẹ.

Không chỉ hôm nay.

Mà trong suốt sáu năm.

Khi mẹ chồng giữ toàn bộ tiền mừng cưới, anh nói tôi nên nhịn.

Khi Như Ý mượn xe của tôi ba tháng không trả, anh nói người nhà không cần tính.

Khi mẹ chồng tự ý chuyển đồ vào phòng làm việc của tôi, anh bảo tôi rộng lượng.

Từng việc nhỏ đã tích lại thành một vết nứt lớn.

Chỉ là hôm nay, tôi mới chịu nhìn thẳng vào nó.

Điện thoại reo liên tục.

Hai mươi ba cuộc gọi từ Minh Hạo.

Mười một cuộc từ mẹ chồng.

Bảy cuộc từ Như Ý.

Tôi không nghe.

Đến gần nửa đêm, luật sư Trần gọi.

“Cô Lâm, tôi cần cô đến văn phòng sáng mai.”

“Có chuyện gì?”

“Chúng tôi đã đọc cuốn sổ của ông Tưởng.”

“Trong đó có gì?”

“Có một thông tin liên quan trực tiếp đến nguồn gốc căn nhà và người thừa kế thực sự.”

Tôi ngồi thẳng dậy.

“Không phải giấy chuyển nhượng đã rõ sao?”

“Phần của cô rõ. Nhưng nửa phần còn lại phức tạp hơn.”

“Anh nói tiếp đi.”

“Ông Tưởng ghi rằng ông không phải người duy nhất có quyền với căn nhà.”

Tôi sững lại.

“Còn ai?”

Luật sư Trần im lặng vài giây.

“Một người phụ nữ tên Tưởng Tú Mai.”

Tôi chưa từng nghe cái tên ấy.

“Bà ấy là ai?”

“Chị gái ruột của ông Tưởng.”

“Nhưng bố chồng tôi từng nói ông là con một.”

“Đó là điều gia đình vẫn nói. Nhưng cuốn sổ cho thấy không phải vậy.”

Sáng hôm sau, tôi đến văn phòng luật sư.

Trên bàn là cuốn sổ bìa xanh đã ngả màu.

Luật sư Trần mở trang đầu.

Bố chồng tôi bắt đầu viết từ mười năm trước.

Phần lớn là ghi chép về công ty, gia đình và khoản nợ.

Nhưng ở trang giữa, có một đoạn được gạch đỏ.

“Tôi mang món nợ với chị Tú Mai suốt gần ba mươi năm.”

Theo lời ông, căn nhà ở ngõ Bạch Tháp ban đầu thuộc về ông nội của Minh Hạo. Khi ông mất, tài sản được chia cho hai người con là Tưởng Đức Thành và Tưởng Tú Mai.

Tú Mai là chị cả, hơn ông ba tuổi.

Bà từng học ở Thượng Hải, sau đó trở về Tô Châu mở xưởng thêu.

Khi Đức Thành muốn lập công ty vật liệu xây dựng, chính bà đã bán xưởng và thế chấp phần nhà của mình để cho em trai vay vốn.

Nhưng vài năm sau, xảy ra một cuộc tranh chấp lớn.

Tú Mai bị vu là biển thủ tiền công ty.

Người đưa ra bằng chứng chống lại bà không ai khác chính là Mỹ Phượng, khi ấy mới cưới Đức Thành.

“Không thể nào…” tôi nói.

Luật sư Trần đẩy một bức ảnh cũ sang.

Trong ảnh là một phụ nữ trẻ mặc sườn xám xanh, đứng trước căn nhà.

Gương mặt bà có vài nét rất giống Như Ý.

“Sau vụ việc, bà Tú Mai rời Tô Châu.”

“Đi đâu?”

“Không rõ.”

“Bố chồng có tìm không?”

“Có. Nhưng không tìm được.”

Tôi đọc tiếp cuốn sổ.

Bố chồng viết:

“Năm ấy, tôi tin vợ. Tôi nghĩ chị gái đã lấy tiền thật. Tôi ký giấy yêu cầu chị từ bỏ quyền với căn nhà để bù khoản thất thoát.”

“Sau này tôi mới biết, số tiền đó được Mỹ Phượng chuyển cho em trai bà ấy làm ăn.”

Tôi ngẩng đầu.

“Mẹ chồng giả chứng cứ?”

“Có vẻ vậy.”

“Bố chồng biết từ khi nào?”

“Khoảng bảy năm trước.”

Tôi lật trang.

Bảy năm trước cũng là lúc tôi mới kết hôn với Minh Hạo.

Trong cuốn sổ, ông kể rằng một cựu kế toán của công ty trước khi mất đã giao lại chứng từ thật.

Ông phát hiện chị gái bị oan.

Nhưng lúc ấy, Mỹ Phượng khóc lóc, nói nếu ông công khai, cả gia đình sẽ tan vỡ, con cái sẽ mất mặt.

Ông do dự.

Ông không công khai.

Ông chỉ âm thầm tìm chị.

Tôi cảm thấy thất vọng.

“Bố vẫn che giấu.”

Luật sư Trần gật đầu.

“Ông ấy thừa nhận điều đó.”

Ở trang cuối, bố chồng viết:

“Tôi đã sai hai lần.”

“Lần đầu là tin lời vu cáo.”

“Lần thứ hai là biết sự thật nhưng vẫn im lặng.”

“Tôi không còn nhiều thời gian. Nếu tìm được chị Tú Mai, một nửa phần quyền còn lại của tôi trong căn nhà phải trả cho chị.”

“Nếu không tìm được, phần đó phải được giữ nguyên, không ai được thế chấp hoặc chuyển nhượng trong vòng mười năm.”

Tôi nhìn luật sư.

“Vậy mẹ chồng cố thế chấp căn nhà đã vi phạm điều kiện.”

“Đúng.”

“Nhưng bà Tú Mai còn sống không?”

“Chúng tôi chưa biết.”

“Tại sao bố chồng không kể với tôi?”

“Có thể ông sợ cô bị kéo vào quá sâu.”

Tôi nhìn bức ảnh cũ.

Người phụ nữ tên Tú Mai đứng dưới giàn hoa tử đằng trước sân.

Cùng vị trí ấy, hôm qua mẹ chồng đã ôm hộp tiền phúng điếu, tuyên bố đưa cho con gái mình.

Thật trớ trêu.

Người đàn bà từng chiếm phần của chị chồng, ba mươi năm sau lại muốn dùng căn nhà để bảo vệ con gái.

“Có manh mối nào không?”

Luật sư Trần lấy ra một bức thư.

“Ông Tưởng từng nhận được thư từ Vân Nam sáu năm trước. Người gửi ký tên Mai.”

Tôi mở thư.

Chỉ vài dòng.

“Đức Thành, chị không cần căn nhà. Chị chỉ muốn một ngày nào đó em dám nói sự thật trước mặt các con.”

“Đừng tìm chị.”

“Từ nay xem như nhà họ Tưởng không còn người chị này.”

Tôi hỏi:

“Địa chỉ?”

“Giả.”

“Vậy gần như không thể tìm.”

“Chưa chắc.”

Luật sư Trần đưa tôi xem một tấm ảnh khác.

Đó là ảnh chụp màn hình camera trước cổng căn nhà cách đây ba tháng.

Một người phụ nữ lớn tuổi đứng ngoài cổng rất lâu.

Bà đội mũ, đeo khẩu trang.

Nhưng trên tay cầm chiếc túi thêu hoa lan.

“Đây là ai?”

“Ông Tưởng từng ghi rằng chị gái ông có một vết sẹo ở cổ tay trái. Người trong ảnh cũng có.”

Tôi nhìn kỹ.

Có một vệt trắng dài ở cổ tay bà.

“Camera ai giữ?”

“Ông Tưởng lắp riêng. Dữ liệu được sao lưu trong hộp sắt.”

Tôi chợt nhớ ba tháng trước, mẹ chồng từng nổi giận vì có người lạ đặt một bó hoa cúc trắng trước cổng.

Bà nói đó là điềm xấu.

Nhưng bố chồng đã mất từ lâu.

Tại sao bà lại sợ một bó hoa?

Tôi hỏi:

“Có thể bà Tú Mai đã quay lại.”

“Rất có thể.”

Đúng lúc ấy, điện thoại tôi rung.

Là Minh Hạo.

Tôi định tắt máy thì luật sư Trần nói:

“Nghe đi. Có thể anh ấy biết thêm.”

Tôi nhận.

“Anh muốn gì?”

Giọng Minh Hạo khàn đặc.

“Em đang ở đâu?”

“Không liên quan đến anh.”

“Anh tìm thấy một thứ.”

“Thứ gì?”

“Trong phòng của bố.”

“Nhà đang bị niêm phong.”

“Anh chưa vào. Anh nhớ trước đây bố từng gửi một chiếc hộp ở ngân hàng.”

Tôi im lặng.

“Chiếc hộp ghi tên cô Tưởng Tú Mai.”

Tôi nhìn luật sư.

Anh ra hiệu hỏi tiếp.

“Anh biết bà ấy?”

“Không. Nhưng đêm qua mẹ nghe tên ấy thì ngất.”

“Bà ấy tỉnh chưa?”

“Rồi.”

“Bà nói gì?”

“Bà bảo người đó đã chết.”

“Anh tin sao?”

“Không biết.”

Tôi khẽ nói:

“Minh Hạo, anh nên hỏi mẹ mình ba mươi năm trước đã làm gì.”

Đầu dây bên kia im lặng.

“Em biết rồi?”

“Biết một phần.”

“Uyển Thanh, anh muốn gặp em.”

“Không cần.”

“Ít nhất cho anh cơ hội giải thích chuyện hôm qua.”

“Anh còn giải thích được gì?”

“Anh không biết mẹ lấy dấu vân tay.”

“Nhưng anh ký hợp đồng thế chấp.”

“Anh nghĩ chỉ dùng phần của bố để lại.”

“Anh chưa từng hỏi phần ấy có thực sự thuộc về anh không.”

“Anh sai.”

“Anh luôn nói anh sai sau khi hậu quả xảy ra.”

“Vậy anh phải làm gì?”

Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ.

“Lần này đừng hỏi tôi.”

Tôi cúp máy.

Chiều hôm đó, luật sư Trần cùng tôi đến ngân hàng.

Chiếc hộp ký gửi đúng là có thật.

Người đồng sở hữu quyền mở là tôi, theo giấy ủy quyền của bố chồng.

Bên trong chỉ có ba món.

Một cuốn sổ tiết kiệm cũ.

Một chiếc trâm bạc hình hoa mai.

Và một bức thư chưa gửi.

Bên ngoài ghi:

GỬI CHỊ TÚ MAI, KHI EM KHÔNG CÒN NỮA.

Tôi mở thư.

“Chị, em biết lời xin lỗi này quá muộn.”

“Em đã chuyển một nửa căn nhà cho Uyển Thanh vì con bé đã cứu gia đình chúng ta.”

“Phần còn lại, em giữ để trả cho chị.”

“Nếu chị không muốn nhận, xin chị ít nhất hãy quay về một lần, để các con em biết sự thật.”

“Em không muốn chúng tiếp tục sống trong lời nói dối của Mỹ Phượng.”

Ở cuối thư có một dòng khiến tôi lạnh sống lưng.

“Người duy nhất biết chị ở đâu là Như Ý.”

Tôi lập tức gọi cho Minh Hạo.

“Em gái anh biết bà Tú Mai ở đâu.”

“Không thể.”

“Bố viết vậy.”

“Như Ý chưa từng nhắc.”

“Vì sao cô ta phải giấu?”

Minh Hạo im lặng.

Tôi nói:

“Anh hỏi cô ta ngay.”

Khoảng hai mươi phút sau, Minh Hạo gọi lại.

Giọng anh căng thẳng.

“Như Ý bỏ đi rồi.”

“Đi đâu?”

“Không biết. Cô ấy mang theo hộp tiền phúng điếu.”

Tôi nhắm mắt.

“Camera trước cổng?”

“Cô ấy lên một chiếc xe màu xám.”

“Biển số?”

“Bị che.”

Luật sư Trần lập tức yêu cầu kiểm tra camera xung quanh.

Một giờ sau, họ xác định chiếc xe chạy về hướng ngoại ô Tô Châu.

Điểm dừng cuối là một viện dưỡng lão tư nhân nhỏ gần Thái Hồ.

Tôi, Minh Hạo và luật sư Trần đến đó ngay trong đêm.

Nhân viên viện ban đầu từ chối cung cấp thông tin.

Nhưng khi nhìn thấy chiếc trâm bạc hình hoa mai, một y tá lớn tuổi sững lại.

“Bà tìm bà Mai sao?”

“Bà ấy ở đây?”

Y tá nhìn chúng tôi cảnh giác.

“Các người là ai?”

Tôi đưa bức ảnh cũ.

“Chúng tôi là người nhà.”

Một giọng già nua vang lên phía sau.

“Tôi không có người nhà.”

Chúng tôi quay lại.

Một người phụ nữ tóc bạc ngồi trên xe lăn ở cuối hành lang.

Bà mặc áo len màu xám, cổ tay trái có vết sẹo dài.

Tay bà cầm chiếc túi thêu hoa lan.

Tôi biết ngay.

Đó là Tưởng Tú Mai.

Minh Hạo đứng bất động.

Anh nhìn gương mặt bà, dường như thấy một phần bóng dáng bố mình.

Bà Tú Mai nhìn chúng tôi.

Sau cùng, mắt bà dừng ở chiếc trâm trên tay tôi.

“Đức Thành mất rồi?”

Tôi gật đầu.

“Một năm trước.”

Bà nhắm mắt.

Không khóc.

Chỉ siết chặt tay vịn xe lăn.

“Ông ấy để lại thư cho bà.”

“Tôi không cần.”

“Ông muốn trả lại phần nhà.”

“Quá muộn.”

Minh Hạo bước lên.

“Cô…”

Bà Tú Mai nhìn anh.

“Con của Đức Thành?”

“Vâng.”

“Giống nó hồi trẻ.”

Anh cúi đầu.

“Cháu xin lỗi.”

Bà cười nhạt.

“Cháu xin lỗi thay ai?”

Anh không trả lời được.

Tôi hỏi:

“Như Ý có đến đây không?”

Ánh mắt bà thay đổi.

“Các người tìm con bé?”

“Cô ấy mang theo tiền phúng điếu và biến mất.”

Bà Tú Mai nhìn sang y tá.

Y tá khẽ lắc đầu.

“Bà Như Ý chưa đến hôm nay.”

Tôi hỏi:

“Bà biết cô ấy?”

“Biết.”

“Bố chồng nói người duy nhất biết bà ở đâu là Như Ý.”

Bà Tú Mai im lặng rất lâu.

“Ba năm trước, nó từng đến tìm tôi.”

“Vì sao?”

“Nó biết chuyện căn nhà.”

Tôi và Minh Hạo nhìn nhau.

Bà nói tiếp:

“Mỹ Phượng bảo nó đến ép tôi ký giấy từ bỏ quyền.”

Minh Hạo tái mặt.

“Mẹ cháu?”

“Đúng.”

“Cô ký không?”

“Không.”

“Sau đó?”

“Như Ý quay lại một mình. Nó khóc, nói mẹ nó ép. Nó xin tôi đừng nói cho ai biết.”

Tôi hỏi:

“Cô ấy có biết bố đã để lại phần nhà cho bà?”

“Biết.”

“Vậy hôm qua cô ấy vẫn định dùng căn nhà mua nhà riêng.”

Bà Tú Mai cười buồn.

“Con người khi đứng trước lòng tham thường quên rất nhanh điều mình từng hứa.”

Đúng lúc ấy, điện thoại Minh Hạo reo.

Là mẹ chồng.

Anh bật loa ngoài.

Giọng bà gấp gáp:

“Con mau về nhà!”

“Có chuyện gì?”

“Như Ý bị người ta giữ rồi!”

“Ai giữ?”

“Người của công ty cho vay.”

Tôi nhìn luật sư.

Mẹ chồng nói tiếp:

“Nó dùng giấy căn nhà vay tiền từ tháng trước. Bây giờ bên đó biết nhà bị niêm phong nên đòi tiền ngay.”

Minh Hạo sửng sốt.

“Nó đã vay bao nhiêu?”

“Bốn triệu tệ.”

“Bốn triệu?”

“Con phải cứu em!”

Anh siết điện thoại.

“Tiền ở đâu?”

“Uyển Thanh có phần nhà. Bảo nó ký đi!”

Tôi bật cười.

Ngay cả lúc này, bà vẫn nghĩ tôi phải cứu con gái bà.

Minh Hạo nhìn tôi, không dám nói.

Tôi lên tiếng:

“Bà Tưởng.”

Bà lập tức im lặng.

Tôi nói:

“Tôi sẽ không ký.”

“Nhưng Như Ý đang gặp nguy hiểm!”

“Đó là hậu quả của việc cô ấy làm.”

“Cô nhẫn tâm vậy sao?”

“Tôi không ký giấy vay, không giả dấu vân tay, không mang tài sản của người khác đi thế chấp.”

“Cô là chị dâu!”

“Từ hôm qua, bà đã nói tôi không phải người nhà.”

Đầu dây bên kia im bặt.

Tôi cúp máy.

Nhưng bà Tú Mai bỗng nói:

“Chúng ta phải đến.”

Tôi nhìn bà.

“Bà muốn cứu Như Ý?”

“Không.”

“Vậy tại sao?”

“Vì nếu nó vay bằng giấy căn nhà, có thể giấy từ bỏ quyền của tôi đã bị làm giả.”

Luật sư Trần gật đầu.

“Đúng. Nếu có giả mạo, cần thu hồi tài liệu ngay.”

Chúng tôi đưa bà Tú Mai trở lại Tô Châu trong đêm.

Khi xe dừng trước căn nhà họ Tưởng, mẹ chồng đang đứng ngoài cổng, mặt tái nhợt.

Bà nhìn thấy chị chồng, cả người như hóa đá.

“Tú Mai…”

Bà Tú Mai ngồi trên xe lăn, nhìn người phụ nữ đã đẩy mình khỏi gia đình gần ba mươi năm.

“Mỹ Phượng, lâu rồi không gặp.”

Mẹ chồng lùi lại.

“Bà đã chết…”

“Thất vọng sao?”

“Không thể nào.”

Bà Tú Mai đưa ra chiếc trâm bạc.

“Còn nhớ không? Ngày bà lấy tiền công ty, bà đánh rơi chiếc trâm này trong két của tôi.”

Mẹ chồng run rẩy.

Mấy người họ hàng quanh đó nhìn nhau.

Như Ý bị hai người đàn ông dẫn từ một chiếc xe khác xuống.

Cô ta khóc lóc:

“Mẹ, cứu con!”

Nhưng khi nhìn thấy bà Tú Mai, mặt cô ta càng trắng.

“Cô…”

Bà Tú Mai hỏi:

“Giấy từ bỏ quyền của tôi ở đâu?”

Như Ý lắc đầu.

“Con không biết.”

“Ba tháng trước, con đến viện dưỡng lão lấy dấu vân tay của ta khi ta ngủ.”

Như Ý quỳ xuống.

“Con bị ép!”

Mẹ chồng lập tức hét:

“Đừng nói nữa!”

Luật sư Trần bước lên.

“Bà Tưởng, từ giờ mọi lời nói đều có thể được ghi nhận.”

Như Ý bật khóc.

“Là mẹ bảo con làm! Mẹ nói căn nhà phải thuộc về con, nếu không sau này anh trai sẽ nghe lời chị dâu, con không còn gì!”

Mẹ chồng lao tới tát con gái.

“Im đi!”

Nhưng Như Ý giữ mặt, hét lại:

“Con làm tất cả vì mẹ!”

“Con vay bốn triệu tệ không phải vì mẹ!”

“Con vay vì mẹ bảo chắc chắn sẽ lấy được căn nhà!”

Cả sân hỗn loạn.

Bà Tú Mai nhìn hai mẹ con, gương mặt không biểu cảm.

Tôi chợt hiểu vì sao luật sư phải khóa cửa hôm qua.

Không chỉ để giữ giấy tờ.

Mà để ngăn những người trong nhà tiếp tục phá hủy bằng chứng về một tội lỗi kéo dài gần ba mươi năm.

Luật sư Trần lấy ra một bản sao giấy vay mà bên cho vay vừa gửi.

Phần người đồng ý chuyển quyền có chữ ký của Tưởng Tú Mai.

Bà nhìn rồi nói:

“Không phải chữ của tôi.”

Dấu vân tay cũng là giả.

Vậy là mọi chuyện đã rõ.

Mẹ chồng không chỉ muốn lấy phần của tôi.

Bà còn cùng con gái làm giả hồ sơ của người chị chồng đã bị bà hại cả đời.

Minh Hạo đứng giữa sân, mặt đầy đau đớn.

Anh nhìn mẹ.

“Mẹ còn giấu con bao nhiêu chuyện?”

Bà Mỹ Phượng bỗng bật khóc.

“Ta chỉ muốn giữ nhà cho các con.”

“Bằng cách lấy của người khác?”

“Nhà này vốn là của bố con!”

Bà Tú Mai bình thản đáp:

“Một nửa là của tôi.”

Mẹ chồng quay sang.

“Bà đã bỏ đi ba mươi năm!”

“Tôi bị đuổi.”

“Bà không quay về!”

“Tôi từng quay về.”

“Lúc nào?”

Bà Tú Mai nhìn tôi.

“Ba tháng trước.”

Mẹ chồng sững lại.

“Người đặt hoa cúc trước cổng…”

“Là tôi.”

“Tại sao không vào?”

“Vì tôi nghe bà và Như Ý nói chuyện trong sân.”

“Bà nghe gì?”

“Nghe bà nói sẽ lấy dấu vân tay của Uyển Thanh, rồi đem nhà đi thế chấp.”

Mẹ chồng mất hết sức lực, ngồi bệt xuống nền.

Bà Tú Mai nói tiếp:

“Lúc ấy tôi hiểu, bà chưa từng thay đổi.”

Minh Hạo quay sang tôi.

Ánh mắt anh chứa đầy hối hận.

Nhưng tôi không còn sức để thương xót.

Luật sư Trần thông báo:

“Tất cả hồ sơ vay và chuyển quyền sẽ được gửi giám định. Căn nhà tiếp tục bị phong tỏa. Bà Tưởng Mỹ Phượng và bà Tưởng Như Ý không được tự ý rời khỏi thành phố trong thời gian xác minh.”

Như Ý khóc nức nở.

“Chị dâu, cứu em.”

Tôi nhìn cô ta.

“Hôm qua em nói tôi không có quyền với căn nhà.”

“Em sai rồi.”

“Em sai vì bị phát hiện.”

“Không, em thật sự biết sai.”

Tôi không đáp.

Bà Tú Mai khẽ nói:

“Đừng xin nó.”

Như Ý ngẩng lên.

“Cô…”

“Uyển Thanh không nợ các người.”

Câu nói ấy khiến mắt tôi cay lên.

Trong suốt sáu năm, đây là lần đầu tiên có người trong nhà họ Tưởng nói tôi không nợ họ.

Tôi quay đi.

Nhưng trước khi rời sân, bà Tú Mai gọi lại.

“Uyển Thanh.”

Tôi dừng bước.

“Ngày mai, cô có thể đưa ta đến mộ Đức Thành không?”

Tôi gật đầu.

“Được.”

Bà nhìn căn nhà.

“Sau đó, ta sẽ quyết định phần của mình.”

Mẹ chồng hoảng hốt.

“Bà định làm gì?”

Bà Tú Mai không trả lời.

Nhưng sáng hôm sau, trước mộ bố chồng, bà lấy từ túi ra một tờ giấy mới.

Một tờ giấy khiến toàn bộ nhà họ Tưởng thêm một lần nữa chấn động.

CHƯƠNG 3: NGÔI NHÀ KHÔNG CÒN THUỘC VỀ LÒNG THAM

Sáng sớm, nghĩa trang phía tây Tô Châu phủ một lớp sương mỏng.

Tôi đẩy xe lăn của bà Tú Mai dọc con đường lát đá.

Luật sư Trần đi cạnh.

Minh Hạo theo sau, im lặng.

Mẹ chồng và Như Ý không được mời, nhưng họ vẫn đến.

Bà Mỹ Phượng mặc áo đen, gương mặt hốc hác chỉ sau hai ngày.

Như Ý cúi đầu, không còn vẻ kiêu ngạo.

Khi đến trước mộ, bà Tú Mai bảo tôi dừng lại.

Bà nhìn tấm bia khắc tên em trai mình.

Rất lâu sau, bà nói:

“Đức Thành, chị về rồi.”

Gió thổi qua hàng thông.

Không ai lên tiếng.

Bà lấy bức thư chưa gửi từ tay tôi, đặt trước bia mộ.

“Em muốn xin lỗi.”

“Chị đã nghe.”

“Nhưng chị không thể tha thứ thay cho ba mươi năm đã mất.”

Mẹ chồng đứng phía sau, bất ngờ nói:

“Bà còn muốn gì nữa?”

Minh Hạo quay lại.

“Mẹ.”

“Ta hỏi sai sao? Đức Thành đã chết. Nhà cũng sắp mất. Như Ý đang nợ nần. Bà ấy còn muốn chúng ta trả giá đến mức nào?”

Bà Tú Mai quay xe lăn lại.

“Mỹ Phượng, đến bây giờ bà vẫn nghĩ người bị hại là bà?”

“Bà đã sống yên ổn ở viện dưỡng lão.”

“Tôi sống một mình gần ba mươi năm.”

“Bà có thể quay về!”

“Quay về để nghe bà nói tôi là kẻ lấy cắp?”

Mẹ chồng cứng họng.

Bà Tú Mai nhìn Như Ý.

“Con bé này năm nay bao nhiêu tuổi?”

“Ba mươi hai.”

“Ta rời nhà khi gần bằng tuổi nó.”

Bà quay sang Mỹ Phượng.

“Nếu có người vu cho Như Ý lấy tiền, cướp phần nhà, đuổi nó ra khỏi gia đình, bà sẽ làm gì?”

Mẹ chồng không trả lời.

“Bà sẽ liều mạng bảo vệ nó.”

“Nhưng năm ấy, bà làm chính điều đó với tôi.”

Như Ý bắt đầu khóc.

“Cô, con xin lỗi.”

Bà Tú Mai nhìn cô.

“Con xin lỗi vì thật sự hiểu, hay vì đang cần ta ký cứu khoản vay?”

Như Ý im lặng.

Không ai có thể trả lời thay.

Bà Tú Mai lấy một tập giấy từ túi.

Luật sư Trần nhận lấy.

“Tôi đã ký quyết định về phần quyền sở hữu của mình.”

Mẹ chồng lập tức tiến lên.

“Bà định cho ai?”

Bà Tú Mai nhìn bà.

“Không cho bà.”

“Bà…”

“Cũng không cho Như Ý.”

Như Ý tái mặt.

Minh Hạo hỏi:

“Vậy cô muốn xử lý thế nào?”

Bà nhìn tôi.

“Ta chuyển phần của ta vào một quỹ tín thác gia đình, do Uyển Thanh quản lý.”

Tôi sững người.

“Con?”

“Đúng.”

“Nhưng con không phải người họ Tưởng.”

“Chính vì vậy.”

Mẹ chồng hét lên:

“Không được!”

Bà Tú Mai lạnh lùng:

“Phần đó là của tôi.”

“Nhưng bà không thể giao cho người ngoài!”

“Ba mươi năm trước, các người đã đuổi tôi ra ngoài. Bây giờ ai mới là người ngoài?”

Mẹ chồng nghẹn lại.

Tôi nói:

“Con không thể nhận.”

Bà Tú Mai nhìn tôi.

“Ta không cho con sở hữu. Ta giao con quản lý.”

“Vì sao?”

“Vì trong cả căn nhà đó, người duy nhất bỏ tài sản của mình ra cứu nó là con.”

“Người duy nhất nhặt mảnh giấy cháy dở là con.”

“Và người duy nhất không dùng quan hệ gia đình để lấy thứ không thuộc về mình cũng là con.”

Tôi im lặng.

Luật sư Trần giải thích:

“Quỹ sẽ giữ nguyên căn nhà trong mười năm. Không ai được bán hoặc thế chấp. Một phần không gian sẽ dùng làm nhà tưởng niệm ông Tưởng và bà Tú Mai. Phần còn lại có thể cho thuê, lợi nhuận dùng để bảo trì và hỗ trợ giáo dục cho trẻ em trong gia đình.”

Như Ý bật khóc.

“Còn con thì sao?”

Bà Tú Mai nhìn cô.

“Nếu con trả hết khoản nợ bằng sức mình và ba năm không còn vi phạm, con trai con có thể nhận hỗ trợ học tập.”

“Chỉ vậy?”

“Con muốn gì?”

“Con là người nhà họ Tưởng.”

“Uyển Thanh cũng từng là người nhà. Các người đối xử với nó thế nào?”

Như Ý không nói.

Mẹ chồng quay sang tôi.

“Uyển Thanh, con nói với bà ấy đi.”

Tôi nhìn bà.

“Con nói gì?”

“Con không cần quản quỹ. Con trả lại phần nhà cho gia đình.”

“Gia đình nào?”

“Chúng ta.”

Tôi khẽ cười.

“Hai ngày trước, mẹ nói con không phải người nhà.”

“Lúc đó mẹ nóng giận.”

“Những lời thật nhất thường được nói khi người ta nóng giận.”

Bà bước đến nắm tay tôi.

“Con đã làm dâu sáu năm. Mẹ cũng từng đối xử tốt với con.”

Tôi nhìn bàn tay bà.

Tôi nhớ rất nhiều chuyện.

Ngày tôi mới cưới, bà từng cho tôi một chiếc vòng ngọc.

Nhưng sau đó biết chiếc vòng có giá trị, bà lấy lại với lý do truyền cho Như Ý.

Ngày tôi ốm, bà từng nấu cháo.

Nhưng rồi lại bảo tôi cố dậy dọn nhà vì họ hàng sắp đến.

Bà có từng tốt với tôi.

Nhưng sự tử tế ấy luôn có điều kiện.

Chỉ cần quyền lợi của Như Ý xuất hiện, tôi lập tức trở thành người phải hy sinh.

Tôi rút tay ra.

“Mẹ từng tốt với con.”

Bà mừng rỡ.

“Vậy…”

“Nhưng điều đó không xóa được việc mẹ định giả dấu vân tay của con.”

Gương mặt bà sụp xuống.

Minh Hạo bước đến.

“Uyển Thanh, anh đã nộp toàn bộ giấy tờ và lời khai.”

Tôi nhìn anh.

“Anh làm đúng.”

“Anh cũng đã từ chối phần tài sản bố để lại.”

“Đó là quyết định của anh.”

“Anh muốn bù đắp.”

“Bù đắp không phải để đổi lấy việc tôi quay lại.”

“Anh biết.”

Anh lấy từ túi áo một chiếc chìa khóa.

Chìa khóa căn hộ chung của chúng tôi.

Anh đặt vào tay tôi.

“Căn hộ đó phần lớn do em trả tiền. Anh sẽ làm thủ tục chuyển toàn bộ cho em.”

“Tôi không cần lòng thương hại.”

“Không phải thương hại. Là trả lại phần thuộc về em.”

Tôi nhìn anh.

Lần đầu tiên, anh không nói “người nhà đừng tính toán”.

Có lẽ anh cuối cùng đã hiểu.

Tình thân không thể là lý do để xóa ranh giới.

Tôi nhận chìa khóa.

Không phải nhận lại tình cảm.

Mà nhận lại quyền lợi của mình.

Sau lễ trước mộ, chúng tôi trở về căn nhà ở ngõ Bạch Tháp.

Dây niêm phong vẫn còn nguyên.

Nhân viên lập biên bản mở cửa trước sự chứng kiến của luật sư.

Bên trong, mâm cơm ngày giỗ đã được dọn sạch.

Nhưng dưới chân bàn thờ vẫn còn một vết nước sốt sẫm màu.

Tôi nhìn nó rất lâu.

Chỉ mới hai ngày trước, tôi còn đứng đó, mặc tạp dề, bị hất mâm cơm xuống đất.

Bây giờ, tôi cầm chìa khóa với tư cách người quản lý hợp pháp.

Cuộc đời đôi khi không thay đổi vì người khác bỗng trở nên tốt.

Nó thay đổi khi mình ngừng cho phép họ đối xử tệ.

Luật sư Trần đọc quyết định mới.

Căn nhà tiếp tục bị giữ nguyên trong thời gian hoàn tất thủ tục.

Mẹ chồng phải chuyển ra khỏi phần nhà chính trong vòng ba mươi ngày do quyền cư trú có điều kiện đã bị hủy.

Bà được bố trí ở căn nhà nhỏ phía sau trong sáu tháng, đủ thời gian tìm nơi khác.

Như Ý phải phối hợp xử lý khoản vay giả mạo và hoàn trả tiền phúng điếu.

Minh Hạo tạm thời không được tham gia quản lý quỹ.

Bà Mỹ Phượng ngồi xuống ghế, nước mắt rơi.

“Ta sống ở đây ba mươi lăm năm.”

Bà Tú Mai đáp:

“Ta từng sống ở đây từ lúc sinh ra.”

“Bà muốn đuổi tôi để trả thù?”

“Không.”

“Vậy tại sao?”

“Vì nếu bà tiếp tục ở đây mà không chịu trách nhiệm, bà sẽ không bao giờ hiểu mình đã làm gì.”

Mẹ chồng nhìn bàn thờ chồng.

“Đức Thành cũng muốn tôi ra đi sao?”

Tôi lấy máy ghi âm ra.

Trong hộp còn một đoạn cuối chưa mở.

Luật sư Trần nhấn nút.

Giọng bố chồng vang lên.

“Mỹ Phượng, tôi không muốn bà không còn nơi ở.”

“Nhưng tôi càng không muốn căn nhà này tiếp tục biến thành công cụ để bà chia rẽ các con.”

“Nếu bà nghe được đoạn này, nghĩa là bà đã đi quá xa.”

“Hãy rời căn nhà một thời gian.”

“Không phải để bị trừng phạt.”

“Mà để học cách sống mà không nắm quyền quyết định thay tất cả mọi người.”

Mẹ chồng bật khóc.

Lần đầu tiên, tiếng khóc của bà không mang theo sự giận dữ.

Chỉ còn mệt mỏi.

“Ông biết hết…”

Giọng ghi âm tiếp tục:

“Như Ý, bố thương con.”

“Nhưng vì thương con mà mẹ con liên tục lấy của người khác bù cho con, cuối cùng chỉ khiến con tin rằng bất cứ khó khăn nào cũng sẽ có người gánh thay.”

Như Ý cúi đầu.

“Khoản nợ con gây ra, con phải tự trả.”

“Nếu con làm được, lúc đó con mới thật sự có một căn nhà của mình.”

Như Ý khóc nấc.

“Bố…”

“Minh Hạo.”

Chồng tôi ngẩng đầu như thể người cha đang đứng trước mặt.

“Con luôn nghĩ im lặng là cách giữ hòa khí.”

“Nhưng sự im lặng của con đã biến người đúng thành kẻ phải nhẫn nhịn.”

“Đừng xin Uyển Thanh tha thứ.”

“Hãy tự hỏi con có xứng đáng được tha thứ không.”

Minh Hạo nhắm mắt.

Đoạn ghi âm cuối cùng dành cho tôi.

“Uyển Thanh, bố xin lỗi.”

“Bố biết con đã chịu nhiều chuyện nhưng vẫn giữ yên nhà này.”

“Bố không cho con căn nhà để buộc con tiếp tục ở lại.”

“Bố cho con một phần vì muốn con nhớ, con có quyền rời đi bất cứ lúc nào.”

“Nhà là nơi che chở con.”

“Không phải chiếc khóa nhốt con trong một cuộc hôn nhân.”

Nước mắt tôi cuối cùng cũng rơi.

Không phải vì Minh Hạo.

Không phải vì căn nhà.

Mà vì người đã mất lại là người hiểu tôi nhất.

Tôi bước đến trước bàn thờ, thắp ba nén hương.

Trong làn khói mỏng, tôi khẽ nói:

“Con đã hiểu.”


Ba tháng sau, mọi việc dần được giải quyết.

Hợp đồng vay bốn triệu tệ bị xác định có sử dụng giấy tờ và dấu vân tay không hợp lệ. Phần tiền Như Ý thực nhận thấp hơn nhiều vì đã bị trừ các khoản phí bất hợp lý.

Luật sư giúp cô ấy thương lượng hoàn trả theo từng giai đoạn.

Như Ý bán xe, bán trang sức và xin việc tại một công ty dịch vụ.

Lần đầu tiên trong nhiều năm, cô phải tự thức dậy lúc sáu giờ sáng, tự đưa con đi học rồi đi làm.

Có lần cô đến gặp tôi.

Không mang quà.

Không khóc lóc.

Cô đặt phong bì tiền lên bàn.

“Đây là phần đầu tiên của tiền phúng điếu.”

Tôi nhìn cô.

“Em có thể chuyển vào tài khoản quỹ.”

“Em muốn tự đưa.”

“Vì sao?”

“Vì em muốn nói một câu.”

Tôi chờ.

Cô siết tay.

“Trước đây em luôn nghĩ chị giữ tiền vì ghét em.”

“Bây giờ thì sao?”

“Bây giờ em hiểu chị chỉ muốn em chịu trách nhiệm.”

Tôi không nói.

Như Ý cúi đầu.

“Em xin lỗi vì mảnh giấy, dấu vân tay và tất cả những gì đã làm.”

“Em xin lỗi vì bị phát hiện hay vì thật sự hiểu?”

Cô ngẩng lên.

Câu hỏi ấy giống lời bà Tú Mai từng hỏi.

Cô im lặng rất lâu.

“Có lẽ lúc đầu là vì bị phát hiện.”

“Còn bây giờ?”

“Bây giờ em thấy xấu hổ.”

Tôi gật đầu.

“Vậy hãy sống khác đi.”

Tôi không ôm cô.

Cũng không nói đã tha thứ.

Có những sự thay đổi cần thời gian chứng minh.

Mẹ chồng chuyển đến một căn hộ nhỏ ở khu phía bắc.

Những ngày đầu, bà gọi Minh Hạo liên tục.

Anh vẫn chăm sóc bà, nhưng không còn làm theo mọi yêu cầu.

Khi bà đòi anh lấy tiền trả nợ cho Như Ý, anh nói:

“Em ấy phải tự trả.”

Khi bà đòi anh ép tôi rút đơn, anh nói:

“Mẹ phải chịu trách nhiệm.”

Có lần bà đến tìm tôi.

Bà đứng ngoài văn phòng quỹ, cầm một hộp đồ ăn.

“Uyển Thanh.”

Tôi dừng lại.

“Có chuyện gì?”

“Mẹ nấu canh hạt sen.”

Tôi nhìn chiếc hộp.

Đó là món canh tôi đã nấu trong ngày giỗ.

Bà có lẽ cũng nhớ.

“Mẹ muốn xin lỗi.”

Tôi im lặng.

“Không phải để con quay lại với Minh Hạo.”

Bà nói rất chậm.

“Chỉ là… mẹ đã nghĩ rất lâu.”

“Mẹ từng ghét chị Tú Mai vì sợ bà ấy lấy mất mọi thứ.”

“Sau đó mẹ lại dạy Như Ý phải lấy thứ thuộc về người khác.”

“Đến cuối cùng, mẹ khiến cả hai đứa con đều không biết sống thế nào cho đúng.”

Tôi nhìn người phụ nữ từng kiêu ngạo đứng giữa đại sảnh.

Bây giờ bà già đi rất nhiều.

“Bà Tú Mai có tha thứ cho mẹ không?”

Bà lắc đầu.

“Chị ấy nói chưa thể.”

“Vậy mẹ có trách bà ấy không?”

“Không.”

Đây là lần đầu tiên bà nói như vậy.

Tôi nhận hộp canh.

“Con sẽ đưa vào cho mọi người.”

Bà nhìn tôi.

“Con vẫn gọi mẹ là mẹ sao?”

Tôi đáp:

“Vì thủ tục ly hôn chưa hoàn tất.”

Mặt bà buồn đi.

Nhưng tôi không muốn cho bà hy vọng giả.

Một tháng sau, tôi và Minh Hạo ký giấy ly hôn.

Anh không tranh chấp tài sản.

Trước khi rời văn phòng, anh hỏi:

“Em có từng nghĩ sẽ cho anh thêm cơ hội không?”

Tôi nhìn anh.

“Có.”

Mắt anh sáng lên.

“Lúc nào?”

“Trước ngày giỗ.”

Ánh sáng trong mắt anh tắt dần.

“Còn bây giờ?”

“Không.”

Anh gật đầu.

“Anh hiểu.”

“Anh có trách tôi không?”

“Không.”

Anh cười buồn.

“Bố nói đúng. Anh đã im lặng quá lâu.”

Tôi không đáp.

Anh đưa tôi một chiếc túi nhỏ.

Bên trong là tạp dề tôi từng để ở nhà họ Tưởng.

“Tại sao đưa cái này?”

“Anh thấy nó trong bếp.”

Tôi cầm lên.

Góc tạp dề vẫn còn vết nước sốt từ mâm cá bị hất đổ.

Tôi nhìn vài giây rồi đặt lại vào túi.

“Tôi không cần.”

“Em muốn vứt đi?”

“Không.”

Tôi nhìn anh.

“Tôi chỉ không muốn mang nó theo nữa.”

Tôi để chiếc túi trên ghế rồi bước ra ngoài.

Một năm sau, căn nhà ở ngõ Bạch Tháp được mở lại.

Một nửa gian trước trở thành nơi trưng bày các sản phẩm thêu truyền thống theo ý nguyện của bà Tú Mai.

Gian phía sau là thư viện cộng đồng nhỏ mang tên bố chồng.

Lợi nhuận từ việc cho thuê hai phòng bên được dùng để duy trì quỹ học tập.

Tôi phụ trách quản lý.

Bà Tú Mai chuyển về sống trong căn phòng nhìn ra giàn tử đằng.

Bà không lấy lại phòng chính.

Bà nói:

“Ta không trở về để chiếm chỗ của ai.”

Như Ý thỉnh thoảng đưa con đến học.

Cô không còn gọi tôi bằng giọng mỉa mai.

Mẹ chồng cũng đến mỗi tháng một lần để thắp hương.

Bà luôn đứng ngoài hỏi trước:

“Tôi có thể vào không?”

Bà Tú Mai thường không trả lời ngay.

Nhưng bà cũng không đuổi.

Có lẽ đó là khởi đầu của sự tha thứ.

Không phải tha thứ bằng cách quên hết.

Mà bằng cách để người có lỗi từng bước học lại cách tôn trọng ranh giới.

Ngày giỗ thứ hai của bố chồng, chúng tôi chỉ làm một mâm cơm nhỏ.

Không mời cả họ.

Không có hộp tiền phúng điếu lớn.

Không có tranh cãi.

Tôi tự tay nấu món cá hấp mà ông từng thích.

Khi đặt lên bàn, bà Tú Mai khẽ nói:

“Đức Thành sẽ vui.”

Tôi nhìn di ảnh ông.

Trước bàn thờ vẫn là phong bì đen năm ấy.

Tôi đã cho lồng nó vào khung kính, giữ nguyên vết nhăn.

Bên cạnh là mảnh giấy cháy dở mà mẹ chồng từng định tiêu hủy.

Phần chữ còn lại chỉ có bốn chữ:

QUYỀN SỞ HỮU NHÀ.

Một đứa trẻ đến thư viện hỏi tôi:

“Cô ơi, sao cô giữ một mảnh giấy cháy?”

Tôi mỉm cười.

“Vì có những thứ dù bị đốt vẫn nói lên được sự thật.”

“Còn phong bì đen?”

“Đó là thứ giúp mọi người trong căn nhà này biết cái gì thuộc về mình và cái gì không.”

Đứa trẻ không hiểu, chạy đi chơi.

Tôi đứng lại trước bàn thờ.

Ngày ấy, mẹ chồng từng thì thầm:

“Từ hôm nay, không ai còn tranh được phần của nó.”

Bà muốn nói đến Như Ý.

Nhưng sau cùng, thứ không ai tranh được không phải tiền, không phải căn nhà.

Mà là quyền được tôn trọng.

Quyền nói không.

Quyền rời khỏi một nơi luôn bắt mình phải nhẫn nhịn.

Và quyền giữ lấy phần đời thuộc về mình.

Tôi thắp ba nén hương, đặt xuống bát.

Ngoài sân, hoa tử đằng lay nhẹ trong gió.

Cánh cổng gỗ mở rộng.

Không còn ai khóa nó để giữ một người phải ở lại.

Cũng không còn ai có thể dùng hai chữ “người nhà” để buộc người khác hy sinh vô điều kiện.

Tôi bước ra ngoài sân, đứng dưới ánh nắng đầu xuân.

Lần đầu tiên sau nhiều năm, tôi không còn là con dâu nhà họ Tưởng.

Nhưng tôi vẫn là người quản lý căn nhà.

Không phải vì tôi đã thắng họ.

Mà vì cuối cùng, tôi đã không đánh mất chính mình.

‼️‼️‼️Lưu ý cuối cùng dành cho người đọc: Nội dung truyện ngắn trên chỉ mang tính giải trí, hư cấu. Tất cả tình tiết, cốt truyện không chỉ trích, xúc phạm bất cứ cá nhân, tổ chức nào. Đây chỉ là truyện ngắn và không phải là một sự kiện, tin tức báo chí