Min menu

Pages

Về quê đột ngột, thấy bố nằm thở khò khè trên giường, mẹ thì không có nhà, chồng tôi lao vào, mặt tái mét kêu lên một tiếng...

CHƯƠNG 1: BIẾN CỐ BẤT NGỜ VÀ NHỮNG DẤU HỎI LỚN

Chuyến xe khách liên tỉnh thả tôi và Thành xuống ngã ba đường đê khi trời đã ngả sang màu vàng vọt của buổi xế chiều. Gió từ cánh đồng lúa đang thì con gái thổi vào mát rượi, nhưng lòng tôi thì như có lửa đốt. Chồng tôi, tay xách nách mang hai chiếc ba lô nặng trĩu, gương mặt phong trần hằn lên những vệt mồ hôi nhễ nhại sau chuyến hành trình dài từ thành phố trở về. Chúng tôi quyết định về quê đột ngột mà không báo trước, phần vì muốn tạo sự bất ngờ cho bố mẹ sau hai năm ròng rã bôn ba làm ăn xa xứ, phần vì dạo gần đây, những cuộc điện thoại của mẹ cứ thưa thớt dần, giọng bà lại phảng phất nét lo âu giấu diếm.

Bước chân tôi dồn dập trên con ngõ nhỏ quen thuộc, hai bên bờ dậu hoa râm bụt nở đỏ rực. Ngôi nhà cấp bốn mái ngói rêu phong của bố mẹ hiện ra dưới tán cây mít cổ thụ. Khung cảnh vắng lặng đến lạ thường. Chiếc cổng tre chỉ khép hờ, chú chó vàng mọi khi thấy người quen là sủa mừng, nay cũng chỉ nằm ủ rũ ở góc sân, khẽ vẫy đuôi đón chủ.
"Mẹ ơi! Bố ơi! Chúng con về rồi đây!" – Tôi cất tiếng gọi lớn, lòng khấp khởi mong chờ cái ôm nồng ấm của mẹ và nụ cười hiền hậu của bố.

Nhưng đáp lại lời tôi chỉ là sự im lặng đáng sợ. Căn nhà tối om, cửa chính mở toang đón từng đợt gió lùa. Tôi bước vội qua bậc thềm, mùi dầu gió hăng nồng xộc thẳng vào mũi. Trong ánh sáng lờ mờ của gian buồng trong, một bóng người đang nằm co quắp trên chiếc giường tre cũ kỹ. Tôi tiến lại gần, tim đập thình thịch như đánh trống trận. Là bố.

Bố tôi nằm đó, gương mặt gầy rộc, hai má hóp lại, làn da sạm đen vì sương gió nay lại thêm phần nhợt nhạt. Đáng sợ nhất là lồng ngực bố phập phồng một cách khó nhọc, tiếng thở khò khè, đứt quãng vang lên rõ mồn một trong không gian tĩnh mịch. Mẹ thì tuyệt nhiên không có nhà. Nỗi sợ hãi tột cùng bóp nghẹt lấy cổ họng tôi, chân tay tôi bủn rủn, đứng chôn chân tại chỗ không thể thốt nên lời.

Đúng lúc ấy, chồng tôi lao vào. Thấy cảnh tượng trước mắt, mặt Thành tái mét không còn một giọt máu. Anh kêu lên một tiếng thất thanh: "Bố! Bố làm sao thế này?!"

Tiếng kêu của Thành như kéo tôi ra khỏi vũng lầy của sự hoảng loạn. Không chần chừ một giây, Thành lao đến bên giường, chiếc ba lô nặng trĩu trên vai bị anh quăng mạnh xuống đất, khóa kéo va vào nền gạch men nghe một tiếng "xoảng" chói tai. Anh quỳ sụp xuống, một tay đỡ lấy bờ vai gầy guộc của bố, tay kia áp nhanh lên trán ông.

"Trời ơi, bố sốt nóng hầm hập thế này! Mai ơi, lấy cho anh thau nước ấm và cái khăn mau lên! Nhanh lên em!" – Giọng Thành lạc đi, sự điềm tĩnh thường ngày của một người đàn ông trưởng thành hoàn toàn biến mất, thay vào đó là sự hoảng loạn tột độ.

Tôi như sực tỉnh sau cơn ác mộng. Chân tay vẫn còn bủn rủn, tôi lật đật chạy xuống gian bếp phía sau. Gian bếp lạnh ngắt, kiềng ba chân trơ trọi, nồi niêu xoong chảo bám một lớp bụi mỏng, chứng tỏ đã vài ngày nay căn bếp này không hề nổi lửa. Lòng tôi thắt lại, nước mắt bắt đầu rơi lã chã. Tôi vội vã múc một thau nước, vắt khô chiếc khăn mặt cũ rồi chạy thục mạng lên nhà trên.

Thành đón lấy chiếc khăn, nhẹ nhàng lau đi những giọt mồ hôi đang rịn ra trên vầng trán nhăn nheo của bố. Tiếng thở của bố vẫn khò khè, nặng nhọc như tiếng cối xay lúa cũ kỹ, lồng ngực gầy trơ xương sườn phập phồng theo từng nhịp thở đứt quãng. Ông khẽ hé mắt, ánh nhìn mờ đục, vô thần nhìn chằm chằm vào trần nhà, môi mấp máy nhưng không phát ra được thành tiếng.

"Bố ơi, con là Thành đây. Vợ chồng con về rồi đây bố. Bố có nghe thấy con nói không?" – Thành ghé sát tai bố, giọng nghẹn ngào.

Bố tôi khẽ cử động ngón tay, như muốn nắm lấy tay Thành nhưng không còn chút sức lực nào. Đúng lúc này, từ ngoài cổng có tiếng bước chân vội vã, kèm theo tiếng thở dốc. Tôi quay lại, là bác Năm bên xóm – người hàng xóm láng giềng thân thiết bao năm qua của gia đình tôi. Trên tay bác vẫn còn cầm chiếc nón lá rách và một rổ rau muống vừa hái dưới ao.

"Kìa! Hai đứa về lúc nào thế? Sao không bảo ai ra đón?" – Bác Năm hốt hoảng buông rổ rau, bước nhanh vào nhà. Khi nhìn thấy cảnh tượng trên giường, sắc mặt bác thay đổi hẳn, tiếng thở dài sườn sượt vang lên: "Khổ quá, ông bà giấu hai đứa bấy lâu nay. Ông Cường bị cảm sương, chuyển biến thành viêm phế quản nặng mấy ngày nay rồi. Bà cụ thì..."




"Mẹ con đâu rồi bác? Sao nhà cửa lại lạnh lẽo thế này? Mẹ con đi đâu giữa lúc bố như thế này hả bác?" – Tôi nhào tới nắm lấy tay bác Năm, dồn dập hỏi, lòng ngập tràn những suy đoán tiêu cực. Trong đầu tôi hiện lên biết bao câu hỏi: Có phải mẹ bỏ đi? Hay mẹ gặp chuyện gì bất trắc?

Bác Năm vỗ vỗ lên mu bàn tay tôi, ra hiệu cho tôi bình tĩnh: "Bình tĩnh nghe bác nói đã Mai. Mẹ anh chị không có bỏ đi đâu mà tội nghiệp bà ấy. Mấy ngày nay, ông nhà bệnh nặng, tiền bạc trong nhà lại cạn kiệt vì vụ mùa vừa rồi thất thu. Bà Cường phải lặn lội sang tổng bên, xin làm thuê cuốc mướn cho nhà người ta từ tờ mờ sáng đến đêm muộn để kiếm tiền mua thuốc cho ông đấy. Tiền long đong, bà ấy không dám nghỉ ngày nào, cũng chẳng dám gọi điện cho hai đứa vì sợ tụi bây lo lắng, ảnh hưởng đến công việc trên thành phố."

Lời bác Năm như một gáo nước lạnh dội thẳng vào tim tôi. Tôi quay sang nhìn Thành, anh cũng đang cúi đầu, hai tay nắm chặt lấy thành giường. Sự hối hận dâng lên nghẹn đắng ở cổ họng. Hai năm qua, chúng tôi mải miết lao vào vòng xoáy cơm áo gạo tiền ở thị thành, cứ nghĩ gửi về cho bố mẹ vài ba triệu mỗi tháng là đã tròn bổn phận. Chúng tôi đâu biết rằng, ở quê nhà, bố mẹ phải chắt chiu từng đồng, giấu giếm mọi đau đớn, mệt mỏi chỉ để các con yên lòng lập nghiệp.

"Bác Năm ơi, giờ phải làm sao đây bác? Bố con thở khó nhọc thế này..." – Tôi khóc nấc lên, mất hoàn toàn phương hướng.

Thành đứng bật dậy, gương mặt anh lộ rõ vẻ kiên định sau vài phút bàng hoàng. Anh nhìn tôi, ánh mắt đầy quyết đoán: "Mai, không khóc nữa. Bây giờ việc quan trọng nhất là phải chăm sóc cho bố hạ sốt và dễ thở hơn. Anh sẽ ra trạm xá trong xã mời y tá về nhà khám và kê đơn thuốc ngay lập tức. Em ở nhà với bác Năm, nấu cho bố một nồi cháo hành thật ấm, lau người cho bố liên tục bằng nước ấm nhé."

Nói rồi, Thành không kịp thay bộ quần áo sực mùi xe cộ, anh lao ra sân, dắt chiếc xe đạp cọc cạch của bố dựng ở góc hiên, đạp thục mạng lao đi trong bóng chiều nhập nhoạng. Tôi nhìn theo bóng lưng dứt khoát của chồng, lòng thầm cảm ơn vì trong những khoảnh khắc sinh tử này, anh luôn là chỗ dựa vững chắc cho tôi.

Bác Năm thở dài, đỡ tôi dậy: "Đúng đấy Mai ạ, thằng Thành nó nói phải. Thôi, con lau nước mắt đi, xuống bếp nhóm lửa. Bác có nắm gạo nếp ngon với ít hành củ đây, để bác nấu cháo cho ông cụ. Mình phải vững vàng thì mới lo được cho bố mẹ."

Căn nhà nhỏ vốn dĩ quạnh hiu nay bắt đầu có hơi người. Tiếng lửa bập bùng từ gian bếp, mùi khói bếp cay nồng hòa quyện với mùi cháo hành thơm phức bắt đầu lan tỏa. Thế nhưng, trong lòng tôi vẫn như có một tảng đá đè nặng. Bố đang nằm kia, tính mạng như ngọn đèn trước gió, còn mẹ thì vẫn bôn ba ngoài kia chưa về. Liệu những ngày tới, gia đình tôi sẽ phải đối mặt với những thử thách gì đây?

CHƯƠNG 2: CUỘC CHẠY ĐUA TRONG ĐÊM VÀ TÌNH NGƯỜI ẤM ÁP

Trời sập tối nhanh chóng. Cánh đồng phía trước nhà chìm vào một màu đen tịch mịch, chỉ có tiếng ếch nhái kêu râm ran xé rách không gian yên ắng. Đồng hồ treo tường điểm 8 giờ tối. Thành đã đi được hơn một tiếng đồng hồ nhưng chưa thấy trở về. Tôi đi ra đi vào như ngồi trên đống lửa, chốc chốc lại chạy vào buồng sờ trán bố. Nhờ có nồi cháo hành của bác Năm và việc lau người liên tục, cơn sốt của bố có phần thuyên giảm, nhưng nhịp thở của ông vẫn rất nặng nề, tiếng khò khè nghe nhức nhối tâm can.

"Bác Năm ơi, sao anh Thành đi lâu thế nhỉ? Trạm xá xã mình cách đây có ba cây số chứ mấy." – Tôi sốt ruột hỏi, hai tay đan chặt vào nhau.

Bác Năm đang ngồi quạt cho bố tôi, nghe vậy liền tặc lưỡi: "Chắc là trời tối, đường đê dạo này đang sửa, lồi lõm khó đi. Với lại giờ này y tá xã chắc cũng về nhà riêng rồi, thằng Thành phải vào tận nhà tìm đấy. Con cứ bình tĩnh."

Đúng lúc đó, từ ngoài ngõ vang lên tiếng phanh xe đạp gấp gáp, cùng với tiếng gọi lớn của Thành: "Mai ơi! Mở cửa, có cô y tá đến rồi!"

Tôi mừng rỡ như bắt được vàng, vội vàng chạy ra mở cổng. Thành dắt xe vào sân, phía sau anh là cô Bình – y tá kỳ cựu của trạm xá xã, người mà cả làng này ai cũng quen mặt. Nhìn Thành, tôi không khỏi xót xa: Chiếc áo sơ mi của anh rách một mảng lớn ở vai, một bên ống quần sũng nước và bám đầy bùn đất, đầu gối bị trầy xước rướm máu. Chắc chắn trên đường đi, vì quá vội vã trong đêm tối, anh đã bị ngã xe. Vậy mà anh chẳng hề sái tay sái chân, vừa vào nhà đã vội vã dắt cô Bình vào phòng bố.

Cô Bình nhanh chóng đặt chiếc cặp y tế xuống, bắt đầu đo nhiệt độ, nghe nhịp tim và kiểm tra họng cho bố tôi. Cả căn phòng im phăng phắc, chỉ có tiếng thở dốc vì mệt của Thành và tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ. Sau một hồi thăm khám kỹ lưỡng, cô Bình thở phào, quay sang nhìn chúng tôi:

"May mà các cháu về kịp, lại biết cách hạ sốt và cho cụ ăn cháo hành để ra mồ hôi. Cụ bị viêm phế quản cấp do nhiễm lạnh, lại không được điều trị kịp thời nên dịch ứ đọng nhiều ở đường hô hấp, dẫn đến khó thở. Giờ cô sẽ tiêm một mũi kháng viêm và trợ thở, sau đó cô kê đơn thuốc tây, các cháu phải cho cụ uống đều đặn trong vòng một tuần. Tuyệt đối không được để cụ nhiễm lạnh nữa rõ chưa?"

"Dạ, chúng con nhớ rồi. Cảm ơn cô nhiều lắm!" – Tôi và Thành đồng thanh đáp, lòng nhẹ đi một nửa.

Sau khi cô Bình tiêm xong và thu dọn đồ đạc, Thành rút trong ví ra một số tiền, trân trọng đưa bằng hai tay: "Cô Bình ơi, đêm hôm tăm tối, đường xá lại khó đi mà cô không quản ngại đến giúp gia đình cháu. Đây là chút tiền thù lao thuốc men và công xá, xin cô nhận cho vợ chồng cháu yên lòng."

Cô Bình nhìn xấp tiền, rồi lại nhìn vết thương trên đầu gối Thành, nghiêm mặt đẩy tay Thành ra: "Cậu Thành này, cậu làm thế là coi thường cái tình làng nghĩa xóm ở cái quê này rồi đấy. Tôi cứu người là bổn phận, hơn nữa bố mẹ cậu ăn ở hiền lành, bao năm qua giúp đỡ dân làng không biết bao nhiêu việc. Thấy ông cụ đổ bệnh, tôi giúp là chuyện đương nhiên. Tiền thuốc tôi lấy đúng giá, còn tiền công xá thì tuyệt đối không. Cậu cầm lấy tiền đó mà mua bồi bổ cho bố, nhìn cậu ngã xước xát hết cả chân tay kìa."

Bác Năm bên cạnh cũng chêm vào: "Phải đấy Thành ạ, cô Bình nói đúng đấy. Ở quê mình sống với nhau bằng cái tình, cái nghĩa chứ đâu phải cái gì cũng lôi tiền ra đo đếm."

Thành cảm động, mắt anh đỏ hoe, khẽ cúi đầu: "Dạ, cháu xin lỗi vì đã đường đột. Cháu cảm ơn cô, cảm ơn bác nhiều lắm."

Khi cô Bình vừa ra về được một lúc, thì từ phía cổng tre, một dáng người gầy gò, liêu xiêu bước vào. Dưới ánh đèn neon mờ tỏ của sân nhà, tôi nhận ra ngay mái tóc bạc phơ và dáng đi hơi còng của mẹ. Mẹ mặc bộ quần áo lao động sờn rách, đôi dép cao su mòn vẹt bám đầy đất sỏi. Trên vai mẹ là một bao tải nhỏ, chắc là gạo hoặc khoai lang người ta trả công.

"Mẹ!" – Tôi hét lên một tiếng rồi lao ra ôm chầm lấy mẹ.

Mẹ tôi ngỡ ngàng, bao tải trên vai rơi bõm xuống đất. Bà nhìn tôi, rồi nhìn thấy Thành đang bước ra từ trong nhà, đôi mắt già nua của bà nhòe đi: "Mai... Thành... Hai đứa về đấy à? Sao... sao không bảo mẹ..."

Bà chưa kịp nói hết câu thì Thành đã bước tới, đỡ lấy đôi vai gầy guộc của mẹ: "Mẹ ơi, chúng con về rồi. Bố bị bệnh sao mẹ không bảo chúng con? Mẹ đi làm thuê làm mướn vất vả thế này, tụi con làm sao mà chịu nổi hả mẹ?"

Mẹ tôi nhìn hai con, rồi nhìn vào trong nhà thấy bác Năm, bà hiểu ra mọi chuyện. Bà mếu máo, những nếp nhăn trên khuôn mặt khắc khổ xô lại vào nhau: "Mẹ xin lỗi... Mẹ không muốn hai đứa phải lo nghĩ. Trên thành phố kiếm tiền đâu có dễ dàng gì, tụi bây còn phải tích lũy để lo cho tương lai. Bố mẹ già rồi, tự lo được... Ai ngờ ông ấy lại chuyển nặng nhanh thế..."

"Mẹ ơi, tiền bạc tụi con kiếm được sao bằng sức khỏe của bố mẹ chứ!" – Tôi khóc nấc lên, ôm chặt lấy người mẹ sực mùi mồ hôi và nắng gió.

Đêm hôm đó, căn nhà nhỏ tràn ngập nước mắt, nhưng đó không phải là nước mắt của sự tuyệt vọng, mà là nước mắt của sự thấu hiểu, của tình yêu thương gia đình thiêng liêng và sự ấm áp từ những tấm lòng hàng xóm láng giềng thầm lặng.

CHƯƠNG 3: BÌNH MINH TRÊN XÓM NHỎ VÀ BÀI HỌC GIÁ TRỊ

Sau một đêm dài đầy biến động, tiếng gà gáy thưa thớt từ phía xa báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Ánh bình minh nhẹ nhàng xuyên qua màn sương sớm, rọi những tia nắng vàng ấm áp xuống sân nhà. Khác với vẻ ảm đạm, lạnh lẽo của buổi chiều hôm trước, căn nhà hôm nay như được khoác lên một tấm áo mới, tràn đầy sinh khí.

Trong buồng, bố tôi đã tỉnh táo hơn hẳn. Nhờ mũi tiêm của cô y tá và sự chăm sóc tận tình của cả nhà suốt đêm, tiếng thở khò khè đáng sợ hôm qua đã biến mất, thay vào đó là nhịp thở đều đặn, êm ái. Sắc mặt ông đã hồng hào trở lại, tuy còn yếu nhưng ánh mắt đã có thần sắc.

Thành bưng vào một bát cháo cá lóc thơm lừng, khói bốc lên nghi ngút. Anh nhẹ nhàng đỡ bố ngồi dậy, chêm chiếc gối bông sau lưng ông: "Bố ơi, bố đỡ mệt chưa? Bố ăn chút cháo nóng cho ra mồ hôi, rồi còn uống thuốc bố nhé."

Bố tôi nhìn con rể, ánh mắt ngập tràn sự xúc động và tự hào. Ông run run đón lấy thìa cháo từ tay Thành, nuốt từng ngụm một cách chậm rãi. "Bố đỡ nhiều rồi các con ạ. Hôm qua làm hai đứa một phen hú vía phải không? Bố già rồi, cái thân già này hay đổ đốn lúc trái gió trở trời."

"Bố không được nói thế!" – Tôi vừa đi vào, tay cầm đĩa cam tươi vừa gọt, khẽ trách nhẹ: "Từ nay về sau, hễ trong người có chỗ nào không khỏe là bố mẹ phải gọi điện ngay cho chúng con. Vợ chồng con làm lụng cả đời cũng chỉ mong bố mẹ được bình an, khỏe mạnh thôi."

Mẹ tôi từ dưới bếp bước lên, trên tay là ấm nước chè xanh nóng hổi. Nhìn gia đình quây quần đông đủ, khuôn mặt khắc khổ của bà giãn ra, nụ cười hiền hậu nở trên môi: "Phải đấy ông ạ, hai đứa nó nói đúng. Tôi cũng chừa rồi, từ nay có chuyện gì cũng không giấu con cái nữa."

Đúng lúc này, ngoài sân có tiếng lao xao nói cười. Tôi và Thành bước ra thì thấy bác Năm cùng ba bốn người hàng xóm trong xóm đang đi vào. Người thì xách theo nải chuối chín cây, người thì cầm chục trứng gà so, người lại mang theo con gà mái tơ.

"Kìa, bác Năm và các cô các chú!" – Thành đon đả chạy ra đón.

Bác Năm cười xòa, đặt nải chuối lên bàn uống nước ở hiên nhà: "Nghe tin ông Cường đỡ rồi, dân làng phấn khởi quá nên tranh thủ buổi sáng ghé qua thăm. Có ít quà quê, cây nhà lá vườn mang sang biếu ông cụ tẩm bổ."

Một chú hàng xóm khác lên tiếng, vỗ vai Thành đầy thân tình: "Hai đứa yên tâm nhé, việc đồng áng, cấy cày của nhà ông bà Cường từ nay đến cuối vụ, thanh niên trong xóm chúng tôi đã bàn nhau rồi, sẽ thay phiên nhau qua làm giúp. Để ông cụ tập trung tĩnh dưỡng cho khỏe hẳn, bà cụ cũng không phải đi làm thuê làm mướn phương xa nữa."

Nghe những lời nói chân thành, mộc mạc ấy, tôi thấy sống mũi mình cay cay. Tình làng nghĩa xóm ở quê hương tôi là thế đấy. Chẳng cần đao to búa lớn, chẳng cần những lời hứa hẹn xa xôi, cứ hễ nhà ai có hoạn nạn, khó khăn là cả xóm lại cùng nhau chung tay, giúp đỡ một cách thầm lặng, vô tư mà chẳng đòi hỏi bất cứ sự đền đáp nào.

Thành cúi đầu thật thấp, hai tay chắp lại trước ngực, giọng anh run run vì xúc động: "Vợ chồng chúng con không biết nói gì hơn để cảm ơn tình cảm của các cô, các chú, các bác dành cho gia đình con. Nhờ có mọi người, bố con mới tai qua nạn khỏi, gia đình con mới giữ được sự trọn vẹn này. Tấm lòng này của mọi người, cả đời này vợ chồng con không bao giờ quên."

Sau khi tiễn những người hàng xóm tốt bụng ra về, Thành nắm lấy tay tôi, nhìn sâu vào mắt tôi. Ánh mắt anh sáng lên một quyết tâm lớn: "Mai ạ, chuyến đi này đã cho anh hiểu ra một điều rất quan trọng. Tiền bạc, danh vọng trên thành phố lớn ngoài kia tuy có giá trị, nhưng không có gì quý giá bằng gia đình và những giá trị tình nghĩa ở quê hương. Anh bàn với em thế này, đợt này về, mình sẽ thu xếp công việc trên đó, rút hết số vốn tích lũy bấy lâu nay để về quê mở một xưởng sản xuất nông sản nhỏ. Vừa được ở gần chăm sóc bố mẹ lúc tuổi già, vừa tạo thêm công ăn việc làm cho bà con lối xóm. Em thấy thế nào?"

Tôi nhìn chồng, nước mắt hạnh phúc dâng trào. Tôi gật đầu lia lịa, ôm chầm lấy anh: "Em đồng ý! Anh nghĩ trùng với ý em rồi. Về quê hương, sống trong tình yêu thương của bố mẹ và sự đùm bọc của xóm làng, đó mới là hạnh phúc đích thực."

Dưới bóng mát của cây mít cổ thụ, tiếng cười hạnh phúc của gia đình tôi hòa cùng tiếng chim hót líu lo chào đón một ngày mới. Biến cố qua đi đã để lại một bài học đắt giá về tình phụ tử, tình mẫu tử thiêng liêng và bài học về đạo lý "thương người như thể thương thân" cao đẹp của con người Việt Nam. Đôi khi, hạnh phúc không nằm ở những điều xa xôi, hào nhoáng, mà nó hiện hữu ngay trong những hành động sẻ chia thầm lặng, trong mái nhà bình yên nơi có bố, có mẹ đang chờ đón chúng ta trở về.

‼️‼️‼️Lưu ý cuối cùng dành cho người đọc: Nội dung truyện ngắn trên chỉ mang tính giải trí, hư cấu. Tất cả tình tiết, cốt truyện không chỉ trích, xúc phạm bất cứ cá nhân, tổ chức nào. Đây chỉ là truyện ngắn và không phải là một sự kiện, tin tức báo chí.